Ảnh hưởng của Hy Lạp đến kiến trúc Ấn Độ

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 120 - 127)

CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ

2.2. Ảnh hưởng Hy Lạp đối với mỹ thuật Ấn Độ

2.2.3. Ảnh hưởng của Hy Lạp đến kiến trúc Ấn Độ

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập 2): “Kiến trúc là nghệ thuật thiết kế và xây dựng các công trình, tổ chức các môi trường không gian, phục vụ cho cuộc sống và họạt động của con người”. Kiến trúc bao gồm kiến trúc nhà ở và kiến trúc công cộng và tôn giáo. Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Hy Lạp đã đạt tới đỉnh cao của sự phát triển từ thế kỷ VII đến thế kỷ V TCN. Hầu hết các kiến trúc ở Hy Lạp là công trình công cộng, đền thờ thần. Đền thờ Parthenon (477-432 TCN), đền Erechtheion (421-405 TCN), đền thờ thần Zeus ở Olympia, và thành Corinth,… là những công trình kiến trúc vĩ đại với những đường nét chạm trổ tinh xảo, phù điêu, tượng điêu khắc của các vị thần, người, và động vật. Kiến trúc tường cột gồm ba kiểu thức cơ bản: Doric, Ionic và Corinth.

Kiểu thức cột Doric phát triển ở lục địa Hy Lạp khoảng thế kỷ VI TCN, nổi bật ở đền thờ nữ thần Hera ở Olympia. Kiểu cột này có đầu cột đơn giản với

đỉnh cột là hình vuông. Trụ ngạch được trang trí bởi các nét chìm ba (triglyph).

Kiểu thức cột Ionic phát triển đồng thời với cột Doric ở các thành bang Hy Lạp của Ionia, Tiểu Á và các đảo của biển Aeagean. Trong khi cột Doric có đầu cột đơn giản, cột Ionic phát triển thêm đế đầu cột và kiểu trang trí xoắn ốc ở đỉnh cột. Mũ cột trang trí trụ ngạch và các tượng điêu khắc. Banerjee (1920) cho rằng người Hy Lạp tạo ra các kiểu thức kiến trúc để mô tả các giới và độ tuổi khác nhau của con người, kiểu trang trí xoắn ốc ở đỉnh cột theo kiểu thức Ionic thể hiện mái tóc xoăn của người phụ nữ và bệ cột thể hiện kiểu giày của họ (tr.36). Vào thế kỷ V TCN, kiểu thức cột Corinth ra đời đánh dấu sự phát triển của kiến trúc Hy Lạp. Cũng giống như cột Ionic, nhưng cột Corinth có đầu cột trang trí phức tạp hơn với các lá ô rô và lá dương xỉ cách điệu (hình 2.40, phụ lục tr.14). Kiểu thức cột Corinth có thể tìm thấy ở đền thờ Apollo Epicurius (450-425 TCN) ở Basae. Có thể nói, ba kiểu thức cột của kiến trúc Hy Lạp đóng vai trò nền tảng cho kiến trúc phương Tây.

Phật giáo, Hindu giáo và Jain giáo học theo người Hy Lạp xây dựng những ngôi đền cho các vị thần của mình. Các công trình kiến trúc tôn giáo ở Ấn Độ được chia thành hai dạng: Dạng chùa động được đào sâu vào các núi đá hoặc hang đá, điển hình cho loại này là các chùa động Ajanta, Ellora, Elephanta, Sanchi, Bharut; dạng thứ hai là các đền thờ được xây độc lập. Banerjee (1920) nhận định rằng thời kỳ phát triển kiến trúc Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ phát triển của Phật giáo (tr. 33). Thuật ngữ Greco-Buddhist art (nghệ thuật Phật giáo Hy Lạp) được Leitner (1870) giới thiệu khi ông tiến hành khai quật ở thung lũng Peshawar và phát hiện nhiều di vật Phật giáo nhưng mang những yếu tố của nghệ thuật Hy Lạp. Tất cả những hiện vật này được lưu giữ tại Bảo tàng Lahore, Peshawar, Bảo tàng Anh và Bảo tàng Berlin, Đức. Những địa điểm tìm thấy sự ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp được minh họa ở bảng 2.3.

Bảng 2.3. Địa điểm ở Ấn Độ chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp Nguồn: Banerjee, 1920, tr. 44

Stt Địa điểm Di vật

1 Thung lũng sông Ấn Cột Corinth

2 Shah-Dehri (Peshawar) Cột Ionic

3 Dải Muối (Salt Range, Punjab) Cột Doric

4 Kashmir Cột Doric

5 Vidisha, Trung Ấn Cột Heliodorus

6 Gandhara Cột Corinth

7 Taxila Đền thờ kiểu Hy Lạp

với cột Ionic

8 Sanchi Trụ ngạch ở cổng bắc

của Tháp I (hình 2.35)

9 Hang động Karla

Trụ đá số 9 của chánh điện

10 Hang động Nasik Hang số 17

Bảng 2.3. cho thấy các địa điểm ở Ấn Độ chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp. Tổng cộng có 10 địa điểm và các yếu tố vay mượn từ nghệ thuật Hy Lạp là kiểu thức cột Ionic, Doric, Corinth, trụ đá, trụ ngạch, đền thờ, và một số tượng điêu khắc….

Trụ ngạch ở Sanchi miêu tả những người đàn ông trong trang phục kiểu Hy Lạp, áo dài có thắt lưng, tóc xoăn ngắn được buộc bởi dải băng đô thường thấy trên các đồng tiền Hy Lạp, đầu đội nón, chân đi sandals, họ đang ôm những ống sáo và kèn đứng trước cổng tháp. Marshall nhận định họ là những người Hy Lạp. Ở chánh điện hang động Karla, người Hy Lạp cúng dường sáu trụ đá và khắc tên họ bằng các pháp danh Phật giáo (Chattopadhyaya, tr.83), cho thấy những người Hy Lạp cải đạo sang Phật giáo. Trụ đá ở Bharhut lại miêu tả một người được cho là chiến binh Hy Lạp dựa vào các yếu tố như dải băng đô trên đầu, áo choàng dài có thắt lưng kiểu Hy Lạp (hình 2.41, phụ lục tr.14). Đặc biệt, mặt chính của chánh điện hang động Manmodi được một người Hy Lạp cúng dường, được xác định do căn cứ vào minh văn khắc trên bề mặt của hoa

sen bằng chữ Brahmi cổ (hình 2.42, phụ lục tr.15). Trong khi đó, tại cổng vào của hang động Rani Gumpha, Udayagiri, một người Hy Lạp được mô tả trong trang phục váy ngắn, chân mang giày ống và được cho là người gác cửa (Gupta, 2008, tr.85) (hình 2.43, phụ lục tr.15).

Nổi bật nhất là những cột đá Ấn Độ thời Ashoka thể hiện theo các cột đá Hy Lạp và theo phong cách Corinth (Corinthian columns).

Sự kiện vua Ashoka cải đạo theo Phật giáo và trở thành vị vua bảo trợ cho tôn giáo này thể hiện qua việc ông cho khắc các huấn chỉ lên vách núi và trụ đá với mong muốn quần chúng nhân dân khi nghe được chánh pháp sẽ theo đuổi và sẽ đạt được tiến bộ và lợi ích trong đời sống hiện tại và vị lai. Các bia khắc dụ hay trụ đá Ashoka được xây dựng hầu hết ở các di chỉ Phật giáo như Sarnath, Sanchi, Bharhut, Amaravati, Vashali,… Các trụ đá Ashoka ở Bharhut khắc các bản kinh Phật về phẩm hạnh của các bậc thánh (Aliya-vasani), về đời sống ẩn sĩ (Muni-gatha), về độc cư thiền định (Mauneya-sute), về sự tinh tấn của bậc đạo sư (Angat-bhayani). Ở các trụ đá ở Sanchi, Kausambi và Sarnath, vua Ashoka bày tỏ sự quan ngại của mình về tình trạng chia rẽ trong tăng già và đưa ra điều lệ khắc phục. Tựu trung, các chỉ huấn của vua Ashoka đề cao Chánh pháp hay đạo đức (Dharma-vijaya), không sát sanh, bất hại, hiếu kính với cha mẹ và các bậc trưởng thượng, cung kính cúng dường các Sa môn, Bà la môn, bố thí, tiết kiệm, tự chế, tịnh tâm, hào phóng, trong sạch và chân thật.

Trên trụ đá Ashoka ở Sarnath được xây dựng khoảng 270 TCN, cao 2.15m bằng sa thạch có bốn con sư tử đấu lưng nhau, đứng trên bệ khắc chạm hình các động vật như voi, ngựa trong hình dáng đang chạy, bò đực, sư tử được phân cách bởi các bánh xe, tất cả đặt trên một cái chuông hình hoa sen gồm hai mươi bốn nan hoa. Các động vật trên trụ đá Ashoka được cho là biểu hiện đầu tiên của nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ cổ đại. Sangwan (1996) cho rằng không một tượng điêu khắc nào được tìm thấy trong giai đoạn từ nền văn minh sông Ấn đến triều đại Maurya (tiền Maurya). Các hoạt động nghệ thuật được khởi xướng bắt đầu từ thời đại Maurya (tr.91). Rõ ràng, trước thời kỳ Maurya, các trụ đá Ashoka chưa xuất hiện, với sự ra đời của chúng, theo các học giả Sharma (1960),

Chabra (1964) và Hultzsch (1969) thì trụ đá Ashoka là bản sao hay nói cách khác trông giống với các trụ đá của Darius và Xerxex. Hai trụ đá kiểu thức Darius được tìm thấy ở Haryana, một ở Tobra và một ở Hissar. Các học giả cho rằng hình tượng sư sử trên các đầu cột ở Lauria Nandangarh và Sarnath chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ba Tư. Hình tượng sư tử có cánh trong các tượng điêu khắc Ấn Độ cũng lấy ý tưởng từ nghệ thuật Ba Tư (Guha, 1970, tr.112).

Thế nhưng, theo Smith (1889), một số đầu cột Ashoka được điêu khắc hoa văn cây kim ngân, một đặc điểm của kiểu thức nghệ thuật Ionic. Ngoài ra, hình tượng người ngựa, xe ngựa bốn con của thần Mặt trời ở Bharhut, Bodhgaya và những nơi khác cho thấy đây là những đặc điểm của nghệ thuật Hy Lạp hoặc có nguồn gốc từ Hy Lạp, trong khi đó, trong điêu khắc và thần thoại Ấn Độ xe ngựa của thần mặt trời là bảy con (tr.211). Ở Jamal Garhi (một trong những di chỉ Phật giáo hiện nay ở Pakistan), rất nhiều đầu cột kiểu thức Ấn-Corinthian được tìm thấy (hình 2.44, phụ lục tr.15). Trụ đá Ashoka tìm thấy ở Pataliputra, kinh đô của triều đại Maurya (nay thuộc bang Patna, Ấn Độ) có kiểu thức Corinth (Hy Lạp) (hình 2.45, phụ lục tr.16). Củng cố cho nhận định trên, Jairojbhoy (1963) cũng cho rằng việc Ashoka dựng các bia khắc dụ lấy ý tưởng từ Hy Lạp. Trong thần thoại Hy Lạp Heracles/Hercules đã dựng các trụ đá ở cực Tây để đánh dấu sự chiến thắng với quỷ Goroon và Alexander cũng đã dựng các trụ đá ở cực Đông để đánh dấu vùng đất ông đã đặt chân đến. Dựng cột hay đền thần là một trong những phong tục của người Hy Lạp (tr.55). Arrian (2015) cũng cho rằng Alexander ra lệnh cho quân đội của ông dựng các đền để dâng lễ vật lên thượng đế (tr. 54). Thông tin này cũng được các học giả như Pliny, Strabo và Appolonius đề cập trong công trình của họ.

Có thể thấy, việc Alexander dựng các cột đá có chạm khắc và đền thần là nguồn cảm hứng cho các trụ đá Ashoka và sau đó là cột sắt của Chandra Gupta II hiện nay còn sừng sững ở thủ đô New Delhi. Trong truyền thống văn hóa Ấn Độ không có trụ đá nào biểu trưng cho sự chiến thắng, trụ đá Asoka thật sự là minh chứng sống động cho sự giao lưu và tiếp biến văn hóa trong buổi đầu tiếp xúc với Hy Lạp. Trụ đá Ashoka có những phiên bản đa dạng, có thể có một

(hình 2.46, phụ lục tr.16) ở Vashali nơi đức Phật thuyết pháp lần cuối cùng, hai sư tử (hình 2.47, phụ lục tr.16) ở Sarnath, ba sư tử (hình 2.48, phụ lục tr.16) ở Sanchi hoặc 4 sư tử trên đầu cột, hoặc chỉ có trụ đá như bia khắc dụ ở Lumbini (Lâm Tỳ Ni) (hình 2.49, phụ lục tr.16). Có thể nói, trụ đá Ashoka với đầu cột sư tử là một cách sáng tạo mới của nghệ thuật thời kỳ Maurya.

Ngoài ra, cột đá granite ở Besnagar (hình 2.50, phụ lục tr.17), gần Sanchi, miền Trung Ấn Độ được cho là trụ đá Heliodorus, có niên đại thế kỷ I TCN, được khắc bằng chữ Sanskrit với nội dung:

“Trụ đá Garuda của Vasudeva (Vishnu), Thượng đế, được Heliodorus xây dựng, một tín đồ của Vishnu, con trai của Dion, và đến từ Taxila, là sứ giả của vua Antialkidas, Hy Lạp. Ba chân lý nếu chuyên tâm thực hành sẽ được lên thiên đàng: Tự kiềm chế (self-restraint), sự cúng tế (self-sacrifice) và sự tận tâm (self-conscientiousness)”4 (Kulke &

Rothermund, 1999, tr.69).

Cột đá Heliodorus đã cho thấy người Hy Lạp thấm nhuần tư tưởng tôn giáo của Ấn Độ. Ở Gandhara, các nhà nghiên cứu tìm thấy loại trụ đá kiểu thức Corinth nhưng được biến cải bằng cách tạc tượng đức Phật ở giữa (hình 2.50, phụ lục tr.18) hoặc người nữ cùng với các hoa văn trang trí trên đầu cột (hình 2.51, phụ lục tr.18). Ở hình 2.51 người nữ được cho là một Yakshi đang mang đồ dâng cúng lên đức Phật, được mô tả trong trang phục chiton (trang phục phổ biến thời kỳ Hy Lạp hóa), tóc xoăn, gương mặt trông giống người phương Tây,

4Nguyên văn chữ khắc được ghi trên cột đá Heliodorus: “For anyone who might have better Brahmi than me”

1) Devadevasa Va[sude]vasa Garudadhvajo ayam 2) karito i[a] Heliodorena bhaga- 3) vatena Diyasa putrena Takhasilakena 4) Yonadatena agatena maharajasa 5) Amtalikitasa upa[m]ta samkasam- rano 6) Kasiput[r]asa [Bh]agabhadrasa tratarasa 7) vasena [chatu]dasena rajena vadhamanasa” (This Garuda column of Vasudeva, the god of gods, was erected here by Heliodorus, a worshiper of Vishnu, the son of Dion, and an inhabitant of Taxila, who came as ambassador from the Great Yona King Antialkidas to King Kasiputra Bhagabhadra, the Savior, then reigning prosperously in the fourteenth year of his kingship. Three important precepts when practiced lead to heaven: self-restraint, charity, conscientiousness/ tạm dịch “Dành cho những ai hiểu biết chữ Brahmi hơn tôi: Trụ đá Garuda này tán dương công đức thần Vasudeva, Chúa tể của các vị thần được dựng ở đây bởi Heliodorus, một tín đồ của thần Vishnu, con trai của Dion và là thần dân ở Taxila, với vai trò là đại sứ của đại đế Yona Antialkidas trong triều vua Kasiputra Bhagabhadra, vị Cứu rỗi, sau đó trở thành vua trị vì thịnh vượng trong mười bốn năm. Ba giới luật quan trọng nếu tinh tấn hành trì sẽ được thác sanh thiên giới: tinh tấn, bố thí, tận tâm”

tai đeo bông tai có hình chùm nho. Kiểu thức cột này được xem là sáng tạo của người Ấn Độ trong tiếp biến văn hóa với Hy Lạp.

Về kiến trúc đền độc lập, Ấn Độ học tập Hy Lạp về phong cách Prostyle hoặc phong cách mặt bằng hình tròn. Phong cách prostyle (chỉ những ngôi đền có dãy cột ở phía trước) đầu tiên xuất hiện ở Hy Lạp. Đền có bốn hàng cột gọi là tetrastyle, đền có sáu hàng cột là hexastyle, và đền có tám hàng cột là octastyle. Ngoài ra, Hy Lạp cũng xây dựng đền có hàng cột ở cả phía trước và phía sau, lúc này đền được gọi là amphiprostyle (hình 52, phụ lục tr.19). Phong cách này được người La Mã tiếp thu và rất phổ biến đến ngày nay. Ở Ấn Độ, phong cách đền Prostyle xuất hiện vào thời đại Gupta. Ngôi đền số 17 ở Sanchi và ngôi đền Kankali Devi, bang Madhya Pradesh (hình 2.53 và 2.54, phụ lục tr.18,19), được xây dựng theo phong cách Prostyle của Hy Lạp vào thế kỷ V CN. Trong khi lịch sử kiến trúc Hy Lạp xuất hiện khá sớm và đền Athena Nike được xây dựng với kiểu thức cột Ionic vào năm 420 TCN (Robin, 1995, tr. 120).

Phong cách mặt bằng hình tròn xuất hiện ở Hy Lạp khoảng 380 TCN, thể hiện ở đền Tholos ở Delphi (hình 2.55, phụ lục tr.19) (Rossiter, 1981, tr.403;

Dinsmoor, 1975, tr.234; de la Coste-Messeliere, 1943, tr.333). Đền được xây dựng với 20 hàng cột kiểu Doric bao bọc xung quanh đền. Đền có chiều cao 13,5m và đường kính là 14,6m, nằm trong tổng thể đền thờ Athena Pronaia.

Trong khi đó, ở Ấn Độ, vào thời đại Maurya cho thấy sự xuất hiện của loại đền có mặt bằng hình tròn như ở Hy Lạp (hình 2.56, phụ lục tr.19). Kiến trúc đền ở Ấn Độ từ thời Gupta có mặt bằng hình vuông hoặc hình chữ nhật. Hình 2.57 (phụ lục tr.19)cho thấy có mặt bằng hình tròn, xây dựng và khoảng thế kỷ II TCN, với 26 cột bao bọc sung quanh đền. Các cột được dự đoán xây bằng chất liệu gỗ. Đền hiện đang tọa lạc tại Bairat, được biết đến với tên Viratnagar cổ, xưa kia là kinh đô của vua Virat, nơi mà anh em Pandavas trải qua năm thứ 13 lưu đày, nay là bang Rajasthan. Bairat nằm cách Jaipur 90 km. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện hai minh văn của vua Ashoka tại đây. Minh văn cho thấy vùng đất này xưa kia là một trong những trung tâm Phật giáo. Ngoài ra, các đồng tiền bạc và vàng của các triều đại Hy Lạp và Ấn-Hy được tìm thấy ở đây,

chứng minh rằng vùng đất này thời tiền Alexander và trong thời của ông đã tiếp xúc và giao lưu với Hy Lạp. Hoặc có thể, các triều đại Hy Lạp và Ấn Độ-Hy Lạp đã từng cai trị ở vùng đất này. Kiểu thức bình đồ kiến trúc hình tròn cũng được tìm thấy ở các đền thờ Yogini, thờ nữ thần Durga của Ấn Độ ở các địa điểm như Odisha, Madhya Pradesh, Ranipur Jharial, Mitawali. Đáng chú ý, sự tương đồng giữa kiến trúc hình tròn của Hy Lạp và Ấn Độ đều thờ nữ thần. Đền thờ ở Hy Lạp thờ nữ thần Athena, trong khi đền Ấn Độ thờ nữ thần Durga. Đền thường được xây trên đồi cao.

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 120 - 127)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(264 trang)