9. Cấu trúc của luận án
1.2. Hành vi và hành vi văn minh
Trong thuyết hành vi cổ điển, hành vi đƣợc hiểu hết sức đơn giản là tổ hợp các phản ứng của cơ thể và trả lời các kích thích từ môi trường tác động vào [14].
E. Tolman (1886-1959) gọi hành vi là “cử động hành vi” (behavior acts) [13,tr 85].
Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh lý học, còn dựa cả vào những thuộc tính của bản thân. Theo tác giả, không thể từ một vận động đơn giản mà tách ra đƣợc những sản phẩm đặc trƣng cho cử động hành vi. Cử động hành vi không phải là phản ứng sinh lý học, vì vậy phải nghiên cứu hành vi tổng thể bằng con đường riêng với các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S - R. Trong lúc đó, K.Hull (1884-1953) lại cho rằng: hành vi là cử động có thể làm cho các nhu cầu của cơ thể được thỏa mãn, là hành vi do các biến số nhu cầu cơ thể và môi trường ngoài cơ thể tạo nên, tuy nhiên hành vi này vẫn nằm trong mối liên hệ trực tiếp S - R.[13]
Thông qua kết quả các thực nghiệm của mình, B.F.Skinner đã phát biểu: “cường độ của hành vi tạo tác tăng lên nếu hành vi (tác động) đƣợc kèm theo kích thích củng cố. Sự củng cố trong bộ máy khái niệm của B.F.Skinner, hai khái niệm chủ yếu là phản ứng tạo tác và củng cố hành vi. Không có củng cố trực tiếp thì không thể có hành vi tạo tác. Có củng cố là có sự xuất hiện phản ứng. Xác suất xuất hiện phản ứng, tần số, và cường độ phản ứng hoàn toàn tùy thuộc vào củng cố và cách củng cố. Theo B.F.Skinner, hậu quả hành vi – những cái củng cố - là các lực kiểm soát rất mạnh mẽ, vì vậy mà kiểm soát đƣợc củng cố thì sẽ kiểm soát đƣợc hành vi.
Nhà tâm lý học J.Mid (1863-1931) làm việc ở đại học tổng hợp Chicago, một trung tâm của tâm lý học chức năng đã tính đến tính độc đáo quyết định luận hành vi con người. J.Mid gọi đó là thuyết hành vi xã hội. Theo ông, cần chấp nhận hành động của nhóm có một ý nghĩa đặc biệt, nghĩa là có tính biểu tƣợng – “cử chỉ có ý nghĩa”
hay “vận động có biểu cảm”. Chỉ có khi đặt mình vào vị trí của người khác, mỗi người mới hiểu được suy nghĩ cũng như những phản ứng của họ. Gần hơn nữa đó là quá trình giao tiếp, con người có thể nhận ra chính họ là ai? Chủ thể trong mắt người khác như thế nào? Và từ đó, mỗi người hiểu ra bản thân mình là gì trong cái nhìn của chính mình.
A. Adler (1870 - 1937) là nhà tâm lý học người Áo với thuyết tâm lý học cá nhân cho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng bởi xã hội. Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội. A.Adler vẫn cho vô thức bản năng hay năng lƣợng tâm hồn là những cơ chế của tính tích cực, xung đột và bảo vệ.
Theo A.Adler, con người luôn muốn hơn người khác, khi có nhược điểm trong lĩnh vực này lại siêu đẳng trong lĩnh vực khác. Đó là cơ chế bù trừ xuất phát từ động cơ xã hội. Những sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố xã hội có tính chất quyết định. Ở đây, Adler đã quá thổi phồng tính chất bù trừ trong con người, mà không thấy vai trò của hoạt động con người [29].
Dưới góc nhìn khoa học, có thể cho rằng ngày nay, các nhà nghiên cứu có thể kế thừa những vấn đề hợp lý trong quan điểm của các tác giả trước đây để đề xuất những vấn đề mới. Sự kế thừa này có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu sự hình thành hành vi của các đối tƣợng ngày nay, trong đó có hành vi văn minh đô thị, trong đó có giải pháp tập luyện để hạn chế những tác động của bản năng, sự hòa nhập vào các mối quan hệ xã hội để thích ứng với tính văn minh trong một đô thị phát triển.
Theo A. Maslow, hành vi của con người không chỉ gồm các hành vi quan sát được mà là những phản ứng không quan sát đƣợc, những trải nghiệm chủ quan của con người. Nếu tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài làm nguyên tắc quyết định cho hành vi con người thì phân tâm học lấy điều kiện bên trong làm nguyên tắc quyết định. Động cơ chính trong cuộc đời là khuynh hướng tự thể hiện mình,
khuynh hướng này là bẩm sinh và không ngừng thúc đẩy con người hướng đến hoạt động, thể hiện hành vi giúp họ tự khẳng định mình.[18]
Qua xem xét lý luận về hành vi của các trường phái trong tâm lý học phương Tây, các trường phái này đều có những điểm hợp lý, họ đã khắc phục được cách nhìn duy tâm về hành vi người, đã có những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu hành vi con người. Tuy vậy lý luận của các trường phái này vẫn chưa hoàn toàn lý giải được một cách đầy đủ những vấn đề cốt lõi về hành vi con người. Trình bày các quan điểm của những trường phái trên nhằm hiểu thêm về những vấn đề cần bổ sung cho nghiên cứu về hành vi, luận án sẽ kế thừa những giá trị tích cực và hợp lý để tiếp tục nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị của thanh niên ngày nay.
L.X. Vygotsky với bài báo nổi tiếng “Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi” đƣợc xem là cương lĩnh đầu tiên của lý thuyết về tâm lý học hoạt động đã xác định hành vi là “cuộc sống” là “lao động” là “thực tiễn” nghĩa là phải hiểu hành vi là hoạt động với đơn vị của nó là hành động trong cuộc sống, tâm lý, ý thức[18]
Đặc biệt chú ý đến luận điểm của A.N.Leonchiev khi cho rằng, trong bản thân ý thức có cái “nghĩa” và cái “ý”. Quan điểm này rất quan trọng khi xem xét hành vi thích ứng của con người trong xã hội. Điều này giúp chúng ta giải thích các hành vi phức tạp của con người trước các lựa chọn nhất định, trong đó có hành vi văn minh đô thị, hành vi mà chủ thể phải hết sức cố gắng lựa chọn là phải làm gì trong tình huống cụ thể.
Nhƣ vậy, có thể nói các nhà Tâm lý học hoạt động đều có chung một quan điểm cho rằng: ý thức là chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở người và hành vi đặc trưng của con người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉn
ý thức, đƣợc chủ thể thực hiện trong điều kiện chủ thể xác định đƣợc mình là ai, hành vi đƣợc thực hiện trong hoàn cảnh nào. Có thể xem cách tiếp cận hành vi của các nhà Tâm lý học hoạt động là nền tảng để kế thừa và tiếp tục nghiên cứu. Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu đồng quan điểm:
hành vi của con người là hành vi có ý thức. Tính có ý thức của hành vi con người thể hiện ở chỗ: trước khi thực hiện hành vi con người có suy nghĩ, con người nhận thức đƣợc hoàn cảnh và sử dụng kiến thức, kinh nghiệm của mình để hình thành
nên các mô hình tâm lý của hành vi (kế hoạch thực hiện hành vi). Mô hình tâm lý này sẽ trải dọc hành vi, định hướng, điều khiển hành vi.
Từ những vấn đề lý luận của các trường phái tâm lý học về hành vi, luận án xây dựng khái niệm cụ thể về hành vi để có những luận cứ phân tích về hành vi văn minh đô thị với tƣ cách là khái niệm công cụ của luận án.
Năm 1843, khi đƣa ra khái niệm “tập tính học”, John Stuart Mill đã nói đến “hành vi” nhƣ là một thói quen tập thành. Khái niệm hành vi đƣợc bàn đến rất nhiều trong tâm lý học từ khi thuyết hành vi trở thành một trường phái tâm lý học, lấy hành vi con người làm đối tượng nghiên cứu [9, tr 34]
Theo A.N. Leonchiev, “hành vi con người không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật mà hành vi phải đƣợc hiểu là hoạt động”[18, tr222]. Cũng trong khuynh hướng này, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích”[18,tr 222]. Theo Hersey và Hard thì “Đơn vị cơ sở của một hành vi là một hành động.
Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động” [41]
Tác giả Robert L. Berger, Ronald C. Federico, James T. McBreen trong tác phẩm
“Human Hehavior - third Edition” thì cho rằng “hành vi đƣợc hiểu là những gì con người hành động, mặt khác hành vi luôn chứa đựng nhận thức và cảm xúc của con người đó” [93,tr 2]. Tác giả Fred Dretske trong “Explaining Behavior” đã phân biệt hành vi và những cử động của một con người, trong đó tác giả nhấn mạnh có hành vi do các tác động bên ngoài nhƣng có nhiều hành vi do các tác động bên trong cá nhân .[75,tr 2-9]. Quan niệm của Fred Dretske rất gần với quan điểm của Leonchiev và Phạm Minh Hạc về hành vi, xem hành vi nhƣ hoạt động hay là sự biểu hiện bên ngoài của hoạt động.
Tác giả Charles Zastrow và Karen K. Kirst - Ashman trong tác phẩm
“Understanding Human behavior and the Social environment” đã mô tả “hành vi con người là những phản ứng từ kết quả tác động của các yếu tố sinh lý - tâm lý - xã hội và môi trường của con người, hành vi không phải là một thao tác mà là một tiến trình”[70,tr14]. Tác giả John M. Ivancevich và Michael T. Matteson trong Orgaizational Behavior and Management cho rằng “hành vi của con người luôn đƣợc kích thích bởi những động cơ cụ thể, kích thích hành vi tức là phải kích thích
động cơ” [79,tr 92]. Nhóm tác giả chủ biên “Abnormal Psychology” cho rằng hành vi không chỉ đƣợc tri giác nhƣ những phản ứng bên ngoài khi có các kích thích, muốn hiểu hành vi bất thường cần tìm kiếm những tác động từ bên trong cá nhân nữa”[92,tr 65]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định”[42,tr 423]. Cách hiểu này đề cập đến hoàn cảnh của sự xuất hiện hành vi và hành vi ở đây phải là những hành xử mà người khác có thể quan sát đƣợc. Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện thì từ tiếng Anh
“Behavior” thường dùng trong các tài liệu tâm lý học có thể dịch sang tiếng Pháp với hai từ khác nhau là “compoterment” và “conduit”, qua tiếng Việt cũng thành hai từ là “ứng xử” và “hành vi” trong đó từ “ứng xử” tương đương với từ
“compoterment”[62,tr 142]. Theo từ điển Giáo dục học thì “Hành vi của con người là hệ thống các hành động của một nhân cách có ý thức, trong đó thể hiện trước hết những mối quan hệ của con người với môi trường xã hội”[35,tr 175]
Trên cơ sở phân tích, đối chiếu các quan điểm của nhiều tác giả và trên cơ sở của tâm lý học hoạt động, có thể hiểu: Hành vi là sự ứng xử của chủ thể đối với môi trường, đối với bản thân họ và đối với người khác do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh.
Ngoài các cơ sở sinh lý học, hành vi của con người còn dựa trên các cơ sở tâm lý học và đây được xem là những vấn đề chủ yếu định hướng hành vi con người. Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) thì “Khái niệm cơ sở định hướng của hành động đã được nhà tâm lý học Xô Viết P.La. Ganperin đề xuất trong lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Nội dung của cơ sở định hướng của hành động ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hành động. Nếu có cơ sở định hướng đầy đủ, hành động sẽ được thực hiện tốt trong một phạm vi các tình huống.” [7,tr125]. Cơ sở định hướng của hành động là một tập hợp các định hướng và chỉ dẫn cho chủ thể cụ thể
Cũng theo thuyết này thì có 3 dạng chính xây dựng sơ đồ cơ sở hành động tương ứng với 3 dạng hoạt động
- Chủ thể không có đƣợc hệ thống đầy đủ các điều kiện nên buộc phải bổ sung nó theo phương pháp “thử và sai”. Do vậy cấu trúc đầy đủ của hành động đƣợc hình thành một cách chậm chạp và chủ thể cũng không nhận thức đƣợc nó một cách đầy đủ. Trong trường hợp này, hành động rất dễ chịu ảnh hưởng của các tác động bên ngoài
- Chủ thể định hướng trên một hệ thống đầy đủ các điểm, vật chuẩn định hướng và trù tính đến toàn bộ hệ thống điều kiện thực hiện đúng hành động, bảo đảm ngay từ đầu không có sai sót. Trong sơ đồ này, cơ sở định hướng của hành động hoặc là xuất hiện với dạng vốn sẵn có, hoặc đƣợc các chủ thể xác lập
- Định hướng đầy đủ của cá nhân không phải là vào điều kiện thực hiện một hành động cụ thể nào đó mà là vào các đơn vị cấu thành và vào các qui luật liên kết những đơn vị đó. Cơ sở định hướng của hành động dạng này bảo đảm cho việc phân tích một cách sâu sắc tài liệu nghiên cứu và hình thành động cơ nhận thức. Những định hướng này xuất phát từ một số cơ sở tâm lý học cụ thể, những cơ sở thúc đẩy hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội.
Bàn về việc thỏa mãn nhu cầu với tƣ cách là một yếu tố tạo nên động cơ hành vi, H.Hipso và M.Phorvec đã cho rằng “Khác với động vật, những nhu cầu cơ thể của con người được thỏa mãn một cách gián tiếp chứ không phải trực tiếp”.
“Phương tiện thỏa mãn là sản xuất ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống trong điều kiện hợp tác. Thực tại đầu tiên và điều kiện tất yếu không thể thiếu của sự sống con người là lao động, sản xuất xã hội tiến hành trong xã hội. Lao động là cội nguồn của hành vi xã hội, vì thế hành vi xã hội là “đƣợc kích thích” từ bên ngoài và không nghi ngờ gì, tạo nên cơ sở con người” [ 40,tr 128]
Theo H.Hipso và Phorvec thì: “Bản chất xã hội của con người, cả hành vi xã hội của họ đều không thể chứa đựng sẵn những hành vi trong cấu trúc sinh vật học của nó dưới dạng những cơ chế điều chỉnh có sẵn. Có chăng thì có thể tìm sự thể hiện của cấu trúc bản chất xã hội này trong cấu trúc sinh vật học chung của con người.
Song không thể cho rằng luận điểm này là trong quá trình phát sinh lúc đầu cấu trúc chung này hình thành, rồi lao động và hình thức xã hội của đời sống phát triển là hậu quả của cấu trúc chung. Cả hai quá trình đều hình thành cùng nhau trong điều kiện ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình sinh ra con người” [40, tr 129]
1.2.2. Văn minh
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W. Summer và A. Keller cho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh. Những sự thích nghi này đƣợc bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”[1,tr 16] Nhƣ vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh với văn hóa.
Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy Văn minh là từ Hán - Việt trong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa. Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, từ “văn minh” không phải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta đã đọc thấy hai chữ “văn minh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là nhƣ con rồng hiện ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh). Trong Kinh Lễ cũng có câu
“Tình thâm nhi văn minh” (nghĩa là lòng cảm động càng sâu thì vẻ ngoài mới sáng tỏ)[1,tr 23]. Nhiều tác giả cũng cho rằng “Văn minh” theo nghĩa hiện nay là do người Nhật mượn trong kho từ vựng của Trung Quốc, dùng để dịch từ “civilisation”
trong tiếng Pháp hay từ “civilization” của tiếng Anh. Các từ này lại bắt nguồn từ ngữ căn La tinh là “civis” và từ ngữ căn này đã hình thành nên các từ có liên quan nhƣ “civilis”(công dân) và civitas”(đô thị). Năm 1776, khi bộ Bách khoa từ điển của nhóm Diderot xuất hiện, Holbach là người biên soạn trực tiếp từ mục này, thuật ngữ
“civilization” mới được mọi người chấp nhận và sử dụng một cách phổ biến như hiện nay. Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đã đƣợc khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai. Nhƣ vậy, với phân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển, là những nhân tố hiện đại, tiến bộ. Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhận định “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sự hỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[1,tr24]. Trong khi đó thì các tác giả từ nước Anh định nghĩa “Văn minh là thời đại lý tưởng của văn hóa nhân loại, với đặc trưng là hoàn toàn không còn tình trạng dã man và những hành vi phi lý. Trong xã hội đó đã có sự vận dụng toàn bộ những nguồn năng lực trí tuệ, vật lực và văn hóa của con người, cũng như sự hoàn thiện đối với cá nhân con người. Như vậy, theo dòng phân