9. Cấu trúc của luận án
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của thanh niên
HVVMĐT của thanh niên sẽ bị chi phối, ảnh hưởng bởi một số yếu tố chủ quan và khách quan. Các yếu tố này có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình hình thành nếp sống, HVVMĐT của thanh niên đang sống ở môi trường đô thị.
1.5.1. Các yếu tố chủ quan 1.5.1.1. Đặc điểm lứa tuổi
Mỗi lứa tuổi có những đặc trưng tâm lý - xã hội nhất định và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, thể hiện thái độ và biểu hiện hành vi của các chủ thể. Các lý thuyết tâm lý học phát triển đã cho thấy mỗi lứa tuổi đều có những hoạt động chủ đạo, các hoạt động chủ đạo này là cơ sở hình thành những nét tâm lý mới.
Thanh niên, tiếp cận từ góc độ tâm lý học là những đối tƣợng bắt đầu định hình được giá trị của mình và trưởng thành về thể chất cũng như tâm lý. Tiếp cận từ góc độ xã hội học - dân cƣ có thể định nghĩa thanh niên là một bộ phận phức hợp của dân cƣ của một quốc gia - dân tộc bao gồm tất cả các cá thể ở trong độ tuổi từ 16 đến 30. Nếu sử dụng thuật ngữ “nhóm xã hội” để chỉ tập hợp xã hội – dân cƣ “thanh niên” này thì có thể thấy “nhóm” này có đường ranh giới nhóm (group boundary) rất mong manh, vì các thành viên của nhóm liên tục vào ở đầu này và ra ở đầu kia do quy luật vận động tự nhiên của sự “lớn lên” hay “già đi” của các thành viên. Và điều này cho thấy “thanh niên” là một nhóm xã hội - dân cƣ “động” chứ không phải là một nhóm tĩnh, ổn định.
Với tính cách là một nhóm xã hội - dân cƣ, “thanh niên” là một nhóm lớn, bao gồm trong đó nhiều nhóm nhỏ thuộc các độ tuổi khác nhau. Một số người chia “thanh niên” thành 3 tiểu nhóm (subgroup) ở các độ tuổi 16 - 18, 19 - 22, 23 - 25 (ở đây giới hạn cho tuổi “vị thành niên và thanh niên” đƣợc tính từ 16 đến 25 tức là tuổi đầu thanh niên). Ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cƣ “thanh niên” còn có thể đƣợc chia thành các tiểu nhóm khác nhau, nhƣ thanh niên thành thị, thanh niên nông thôn (nếu lấy địa bàn cƣ trú làm tiêu chí phân biệt), hay thanh niên công nhân, thanh niên nông dân hoặc thanh niên trí thức (nếu lấy nghề nghiệp làm tiêu chí phân biệt)... Ngoài ra, các yếu tố khác như tộc người, tôn giáo, giới tính, giàu - nghèo...
cũng có thể đƣợc coi là tiêu chí để phân biệt các tiểu nhóm trong nhóm lớn “thanh niên”.
Dù là nhóm xã hội - dân cƣ có tính phức hợp và đa dạng rất cao nhƣ đã chỉ ra ở trên, “thanh niên” vẫn có những đặc điểm, đặc trƣng chung, tạo nên tính thống nhất (unity), những sự tương đồng (similarities) là cơ sở cho độ cố kết của nhóm (group cohesion). Cái chung, cái thống nhất căn bản nhất của “thanh niên” chính là ở tuổi trẻ, ở độ tuổi “thanh niên” của tất cả các thành viên. Trong cuộc đời của mỗi con người thì tuổi thanh niên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Xét từ góc độ tâm - sinh lý thì đây là giai đoạn con người chuyển biến từ một đứa trẻ thành một người trưởng thành với sự hoàn thiện cơ thể về mặt sinh học và những chuyển biến về tâm - sinh lý, tình cảm rất điển hình của “tuổi mới lớn”. Xét từ góc độ “con người - xã hội” thì tuổi thanh niên chính là giai đoạn mỗi con người chuẩn bị hành trang cho toàn bộ cuộc đời mình: học vấn, nghề nghiệp, thử nghiệm và lựa chọn văn hóa, kinh nghiệm, lối sống trên cở sở định hình dần hệ giá trị của riêng mình, trở thành công dân thực thụ với đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ do luật định, lựa chọn bạn đời và lập gia đình (hay không lập gia đình)... Với ý nghĩa nhóm xã hội - dân cƣ thì thanh niên cũng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia - dân tộc. Hồ Chí Minh từng nói: “Một năm bắt đầu bằng mùa xuân, cuộc đời bắt đầu bằng tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của dân tộc”. Thanh niên là nhóm xã hội - dân cƣ có sứ mệnh đón nhận sự “trao truyền” giá trị, bàn giao nhiệm vụ, ủy thác trách nhiệm, gửi gắm niềm tin của thế hệ đi trước (thế hệ già đã và đang giữ vai trò lãnh đạo gia đình - cộng đồng - quốc gia dân tộc).
Tuổi đầu thanh niên đã hình thành biểu tƣợng “cái tôi” có tính hệ thống. Vị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Các mối quan hệ xã hội của thanh niên đã trở nên hết sức đa dạng và đƣợc mở rộng không ngừng.
Chính sự mở rộng các mối quan hệ xã hội này, từ sự đánh giá và nhìn nhận của người khác về mình, thanh niên đã tự nhận thức được giá trị và sự lớn lên của mình.
Mặt khác khi đã nhìn nhận sự thay đổi theo hướng tích cực của thanh nhiên, những người chung quanh, đặc biệt là người lớn đã thay đổi thái độ, trân trọng thanh niên hơn, yêu cầu cao với thanh niên hơn và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình. Hơn nữa, thanh niên đang đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, sau khi tốt nghiệp đại học, phải xây dựng cho mình một cuộc
sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội.
Biểu tượng về "cái tôi" trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn. Tôi trong biểu tƣợng của tôi rất tuyệt vời song thanh niên cũng dễ rơi vào trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà họ quan tâm. Thông thường biểu tượng về cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con người nhƣ một cá thể đƣợc nhận biết sớm hơn các thuộc tính nhân cách. Ở giai đoạn đầu thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm của hình thức thân thể. Họ so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo các đặc điểm nhân cách nhƣ ý chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống...
ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình ảnh "cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động hơn. Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong cuộc sống chung.
Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tƣ duy. Thanh niên có khả năng và rất ƣa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tƣ duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát thanh niên có thể tự mình phát hiện ra những cái mới. Với họ điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề đƣợc đặt ra chứ không phải là loại vấn đề nào đƣợc giải quyết.
Tự ý thức phát triển ở mức độ cao, nhiều nhà tâm lý học nhận thấy rằng khi đánh giá con người nếu như thiếu niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liên quan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy cô giáo, thì thanh niên chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất nhân cách có tính bền vững nhƣ các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý chí, thái độ đối với lao
động, quan hệ với những người khác trong xã hội… Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình. Trên cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớn của bản thân mình ở thanh niên không phải là một cảm nhận chung chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mình vào một giới nhất định.
Với thuyết Erik Erikson, giai đoạn trưởng thành còn thanh xuân được xem gần như tuổi đầu thanh niên. Tác giả Lowenthal đã đƣa ra một khung giá trị cho việc nghiên cứu sự phát triển thời kỳ trưởng thành còn thanh xuân (đầu thanh niên) với các cam kết quan trọng, trong đó lứa tuổi này có cam kết giữa người với người có ý nghĩa rất đặc biệt với sự phát triển tâm lý của giai đoạn lứa tuổi này. Cam kết về nghề nghiệp là một trong những cam kết có ý nghĩa quan trọng của giai đoạn này [48,tr 324].
1.4.1.2. Trình độ học vấn và nhận thức của thanh niên
Học vấn là thước đo hiểu biết của con người, là phương tiện để con người có thể tiếp thu một cách có chọn lọc, có chủ đích những tác động hoặc các giá trị từ hiện thực khách quan. Người có trình độ học vấn cao là người có hệ thống kiến thức sâu, rộng về những vấn đề xã hội, chính trị… đƣợc tích lũy từ quá trình học tập ở các trường phổ thông, chuyên nghiệp và từ kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân. Trình độ học vấn cũng như nhận thức của thanh niên là yếu tố bên trong có ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành HVVMĐT của thanh niên.
1.5.1.3. Tính chất hoạt động của thanh niên
Hoạt động nghề nghiệp của cá nhân là một dạng hoạt động đặc thù của từng người có tác dụng hình thành những phẩm chất nghề nghiệp tương ứng, hình thành văn hóa nghề nghiệp, các thói quen ứng xử … phù hợp với đặc trƣng nghề nghiệp. Hệ thống giá trị nghề nghiệp, các qui định của hoạt động nghề nghiệp, tính chất chuyên nghiệp của hoạt động nghề nghiệp… có ảnh hưởng nhất định và chi phối việc hình thành, biểu hiện HVVMĐT của chủ thể. Mặt khác, các đặc trƣng về sinh hoạt hoặc tính chất hoạt động thể hiện vị thế hay chỗ đứng của thanh niên trong cộng đồng cũng ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành những hành vi văn minh trong môi trường đô thị.
1.5.1.4. Khả năng thích nghi xã hội của thanh niên
Trong nghiên cứu này, sự thích nghi là khả năng thay đổi của con người để ứng phó với những thay đổi của môi trường sống. Về bản chất, sự thích nghi mang hàm ý nói đến tính tích cực xã hội của con người, điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình phù hợp với môi trường đã biến đổi sao cho cuộc sống của họ được duy trì và phát triển. Nhƣng vẫn có thể phân biệt các mức độ thích nghi khác nhau dựa vào khả năng nắm bắt cơ hội một cách tích cực, tìm đƣợc chỗ đứng của mình trong môi trường xã hội đó hay sự thích nghi một cách thụ động, để hoàn cảnh đưa đẩy.
Thích nghi xã hội là một quá trình và khả năng thích nghi của con người phụ thuộc nhiều vào chính bản thân họ nhƣng cũng chịu sự tác động của các điều kiện khách quan bên ngoài. Trong nghiên cứu này, sự thích nghi với lối sống đô thị đƣợc nghiên cứu với nội dung nhƣ sự thay đổi thói quen sinh hoạt của thanh niên.
1.5 ý thức về giá trị bản thân và cảm giác “thuộc về ” của thanh niên Cảm giác thuộc về hay còn gọi là “Sense of belonging” là một trạng thái tâm lý tích cực cần thiết cho cuộc sống. Mọi người thường nói là họ yêu gia đình, yêu cơ quan, yêu trường lớp, yêu nhóm bạn bè của họ. Thực ra thái độ “yêu” này chính là “cảm giác thuộc về”. Người ta yêu và gắn bó với một tập thể khi người ta có cảm giác thuộc về tập thể đó, gần gũi với mọi người trong tập thể đó. “Mỗi thanh niên trong cộng đồng sẽ không thể nào tích cực đƣợc với cuộc sống nếu họ cho rằng mình bị ném vào cuộc sống này nhƣ một nhà tù lớn lạnh lùng”[43,tr 56]. Thanh niên là một phần tích cực của cuộc sống đang diễn ra với những hoạt động đa dạng, với những thói quen tưởng chừng vô bổ hoặc chẳng bao giờ có ai biết đến….
Theo số liệu điều tra trong công trình nghiên cứu tại TPHCM của tác giả Trần Hữu Quang, chỉ có 40% trong mẫu “coi thành phố nơi mình sống là thành phố của mình”. Các tác giả kết luận: “Như vậy, điều đáng lưu ý là những người “coi đây là thành phố của mình”, hay cũng có thể nói là có tâm thế của người làm chủ hay chủ thể của thành phố, có cảm nhận thuộc về thành phố, chỉ chiếm có 40%, tức hai phần năm cƣ dân đô thị. Hiện tƣợng này cần đƣợc các nhà lãnh đạo của chính quyền thành phố lưu tâm và xem đây như một thứ vấn nạn đối với trách nhiệm quản trị thành phố”. Một khi cƣ dân đô thị có “cảm giác thuộc về” thành phố thì việc hình
thành lối sống, nếp sống thị dân góp phần làm cho thành phố ngày càng trở nên văn minh, hiện đại sẽ rất thuận lợi…
1.5.2. Các yếu tố khách quan 1.5.2.1. Môi trường xã hội
Mỗi thanh niên là thành viên của các cộng đồng, tùy thuộc vào tính đặc thù và giá trị của cộng đồng, cá nhân sẽ bị tác động đến việc thể hiện hành vi.
Kurt Lewin (1943) người sáng lập môn Tâm lý học xã hội đã phát triển lý thuyết chuyên môn của mình, thừa nhận rằng con người bị ảnh hưởng bởi môi trường tâm lý của họ. Môi trường tâm lý này bao gồm cả những ảnh hưởng về vật lý và xã hội gây áp lực đối với hành vi con người. Roger Barker và Herbert Wright (1955) đã có nghiên cứu tiếp theo về sự chấp nhận ảnh hưởng của môi trường đối với hành vi. Họ cho rằng “Hành vi của chúng ta bị tác động bởi hoàn cảnh của hành vi đó. Khi mô tả những điều kiện hành vi thì chúng ta phải bao hàm cả những khía cạnh xã hội và vật lý. Bạn sẽ hành động khác khi ở trong nhà thờ so với ở một buổi liên hoan, bởi vì các bối cảnh này khác nhau về khía cạnh vật lý cũng nhƣ xã hội” [ 48,tr 654].
Có nhiều yếu tố của môi trường ảnh hưởng tới HVVMĐT của thanh niên. Yếu tố
“tâm lý đám đông” và lối sống “ẩn danh”, “vô danh” ý”
cũng là nguyên nhân làm cho cách hành xử của thị dân thành phố chƣa đƣợc văn minh. Vì lối sống ẩn danh, vô danh, không ai biết ai nên họ không cảm thấy xấu hổ.
“Tâm lý đám đông” cũng làm lây lan lối sống thiếu văn minh giữa các thị dân. Khi sống trong một cộng đồng, một nhóm xã hội với những giá trị cụ thể, mỗi người, đặc biệt là thanh niên vốn có nhu cầu xác định cái tôi rất cao sẽ có nhiều cố gắng để tự thể hiện mình, để được người khác đánh giá tốt, để không lạc hậu so với cộng đồng. Do đó trong môi trường cộng đồng, các hành vi ý thức sẽ có nhiều cơ hội hình thành một cách tích cực, các HVVMĐT cũng sẽ đƣợc chú ý và xây dựng trên cơ sở nhận thức vấn đề một cách rõ ràng và có thái độ tích cực tương ứng.
1.5.2.2. Điều kiện, phương tiện vật chất Các hành
thức,… Việc tạo thành các thói quen có ý nghĩa hết sức quan trọng để hình thành những hành vi ý thức. Việc hình thành các thói quen sẽ được thực hiện tương đối dễ dàng khi có những điều kiện và
phương tiện vật chất hỗ trợ phù hợp. Người dân sẽ chấp hành các yêu cầu và sẵn sàng bỏ rác vào thùng khi có đủ thùng rác ở nơi cần thiết và thuận lợi, người dân sẽ dễ chấp nhận các phương tiện giao thông công cộng khi việc sử dụng các phương tiện công cộng thuận tiện, đầy đủ và an toàn. Chính các điều kiện, phương tiện phục vụ sinh hoạt và cuộc sống đáp ứng các yêu cầu của đời sống đô thị sẽ là cơ sở cần thiết và hữu hiệu để các cá nhân thể hiện sự hòa nhập của mình và hình thành nếp sống thị dân thể hiện thông qua các hành vi văn minh của cƣ dân đô thị.
1.5.2.3. Hệ thống các qui định về việc thực hiện hành vi văn minh đô thị Mọi thành viên trong một cộng đồng, một tập thể hay một địa phương đều có khuynh hướng hoạt động và biểu lộ hành vi theo những khuôn mẫu và những yêu cầu nhất định. Hành vi ý chí hay những hành vi tự giác cũng sẽ bắt đầu từ những thói quen, từ sự luyện tập. Các qui tắc ứng xử bắt buộc nhƣ nội qui, các qui định của pháp luật hoặc những điều kiện của một tổ chức có tác dụng kiểm soát và thúc đẩy cá nhân thực hiện những hành vi thích hợp theo yêu cầu. Nội qui của lớp học hay qui định, qui chế làm việc của công sở hoặc những tác động quản lý qua các văn bản pháp qui hoặc các nghị quyết... sẽ là những căn cứ, là những chuẩn mực mà cá nhân thành viên phải chấp hành. Nếu các cơ chế hoạt động hợp lý, các qui định rõ ràng, các chính sách thỏa đáng thì các hành vi theo yêu cầu sẽ đƣợc thực hiện một cách nhanh chóng và kịp thời. Các tác động quản lý khác nhƣ việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc, đánh giá kết quả thi đua, khen thưởng trách phạt tương ứng sẽ là các tác nhân tạo ra kích thích để cá nhân thực hiện hành vi theo yêu cầu của nhà quản lý.
1.5.2.4. Đặc điểm đô thị các nước đang phát triển
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Đô thị là nơi tập trung dân cƣ, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH Kiến trúc, Hà Nội).
Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong