Văn minh đô thị và hành vi văn minh đô thị

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Hành Vi Văn Minh Đô Thị Của Thanh Niên Thành Phố Hồ Chí Minh (Trang 32 - 38)

9. Cấu trúc của luận án

1.3. Văn minh đô thị và hành vi văn minh đô thị

Cuộc sống hiện nay vẫn còn có thể phân biệt về lối sống, nếp sống ở vùng đô thị và vùng nông thôn hay vùng đang đô thị hóa. Văn minh đô thị đƣợc hiểu là những giá trị tiến bộ, hiện đại, hợp lý, thuận lợi... thể hiện trong cuộc sống của xã hội hiện đại ở đô thị. Văn minh đô thị là khái niệm chỉ các giá trị hướng đến những cách thức cư xử đẹp đẽ, lịch sự, mang lại sự thuận lợi cho nhiều người trong môi trường xã hội đô thị hiện đại.

trường phái “Sinh thái học nhân văn” (Human ecology)

(The City: suggestions for the investigation of human behavior in the

urban environm 1916

“Nguồn gốc của thị dân; sự phân bố dân cƣ thành thị trên địa bàn; sự thích ứng của các nhóm xã hội để hoà nhập vào xã hội đô thị hiện đại; những thay đổi trong đời sống gia đình, trong các thiết chế giáo dục, tín ngƣỡng; vai trò của báo chí trong công luận và dẫn dắt tình cảm của công chúng đô thị”[95].

,

- -

)[102]. Dân số quá đông, mật độ cƣ trú quá cao và tính chất xã hội khác biệt

đó cũng bị hình thức hóa. Những thay đổi to lớn về cơ cấu và các thiết chế đã mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho thị dân.

. Từ đó có thể cho rằng, không hẳn mục đích cuối cùng của cƣ dân đô thị chỉ là quyền lợi kinh tế vì ở nông thôn, cƣ dân nông thôn cũng có những nhu cầu và đòi hỏi quyền lợi kinh tế. Vấn đề chính tạo nên sự khác biệt giữa ứng xử ở đô thị với nông thôn là vấn đề từ sự khác biệt văn hóa nữa.

dưới áp lực của mệnh lệnh và khi không phải chịu trách nhiệm cá nhân, những n

cộng đồng đô thị tạo nên “sự quá tải”

cho tâm lý của thị dân. Người dân thành thị tham gia vào các quan hệ hời hợt, đứt đoạn, ngắn ngủi và thậm chí là phi nhân văn là do tính cách thích nghi với sự quá tải tâm lý do quy mô, sự đông đúc và sự đa dạng tạo ra [87]. Trong

Metropolis and mental life” George Simmel đã c , và tính phức tạp của đô thị.

-

) -

.

Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống đô thị là một trong những giá trị tinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình đô thị hóa. Bởi nếp sống đô thị là một giá trị tổng hợp, có trình tự về thời gian ra đời gần như muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước đo trình độ của tiến trình đô thị hóa. Tuy không tất yếu phải chờ một sự phát triển chín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng nhƣ sự phát triển thật cao của một số giá trị tinh thần khác, song nếp sống đô thị cũng chỉ có thể bắt đầu đƣợc xây dựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thƣợng tầng kiến trúc nhất định trong tiến trình đô thị hóa. Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc

cao, nếp sống đô thị sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạo thành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển đô thị bền vững”[50]

Từ đó có thể thấy: Văn minh đô thị là lối sống hướng đến sự thay đổi tích cực trong sinh hoạt, đời sống ở đô thị. Văn minh đô thị là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống đô thị. Văn minh đô thị thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân đô thị.

1.3.2. Hành vi văn minh đô thị

1.3.2.1. Khái niệm hành vi văn minh đô thị

Hành vi văn minh đô thị (HVVMĐT) là một khái niệm tương đối mới khi xã hội ngày nay đƣợc xem là một xã hội văn minh với những sự thay đổi nhanh chóng về các chuẩn giá trị và thói quen sinh hoạt... Những ứng xử của cƣ dân đô thị trong một xã hội văn minh được khá nhiều người quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu về nếp sống văn minh đô thị dưới nhiều góc độ như xã hội học, văn hóa học.

HVVMĐT có xuất phát điểm từ các nhu cầu xã hội của con người, trong đó các nhu cầu khẳng định giá trị và nhu cầu đƣợc tôn trọng đƣợc xem là những thúc đẩy mạnh mẽ để cá nhân thực hiện nó. Thông qua quá trình lao động, học tập, rèn luyện, các nhu cầu này sẽ có điều kiện để thỏa mãn và lúc đó các HVVMĐT sẽ đƣợc hình thành góp phần làm cho hoạt động của cá nhân ngày càng phù hợp với chuẩn mực xã hội. HVVMĐT có khởi đầu là hành vi của người người sống trong môi trường đô thị và chịu ảnh hưởng của lối sống thị dân, được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển đô thị. Văn minh đô thị đƣợc hiểu theo theo nghĩa là “văn minh” ở

“đô thị”. Khi “văn minh đô thị” đã trở thành thói quen chung của mọi người thì nó trở thành “nếp sống”. Nhƣ vậy, thực hiện HVVMĐT là xây dựng thói quen, lối ứng xử văn minh ở đô thị.

Trên cơ sở những phân tích về hành vi và văn minh đô thị, có thể hiểu rằng:

Hành vi văn minh đô thị là những ứng xử hiện đại, hợp lý, tiến bộ, hợp thời đối với cuộc sống đô thị của chủ thể đối với môi trường, với người khác và đối với bản thân thể hiện qua những hành động cụ thể phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, phù hợp với giá trị tiến bộ của xã hội đô thị hiện đại.

1.3.2.2. Đặc điểm của hành vi văn minh đô thị

HVVMĐT là những ứng xử cụ thể của cá nhân đƣợc thể hiện trên những hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại trong bất kỳ tình huống nào, trong bất kỳ môi trường nào. Hành vi được cho là văn minh trong môi trường đô thị có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Tính hợp pháp

HVVMĐT trước hết phải là những hành vi hợp pháp, đó là những hành vi không đi ngƣợc lại những qui định của pháp luật hay các qui định trong nội qui hoặc qui chế hoạt động của cộng đồng. Các cộng đồng dân cƣ hoặc các tổ chức xã hội đều có những qui định cụ thể về các tiêu chuẩn và giới hạn hoạt động trong phạm vi của mình nhƣng tất cả những qui định đó đều phản ánh tính hợp pháp của các dạng hoạt động, qua đó thể hiện tính hợp pháp của hành vi cá nhân trong môi trường hoạt động, thể hiện tính hợp pháp của hành vi văn minh trong môi trường đô thị hiện đại. Những hành vi hợp pháp đƣợc hiểu là những ứng xử bắt buộc trong những trường hợp cụ thể được thể hiện trong các qui định trong cả bình diện tích cực và không tích cực, nghĩa là có những hành vi đƣợc phép thực hiện và cả những hành vi không được phép hoặc bị cấm trong những trường hợp cụ thể.

- Tính lợi ích

HVVMĐT là những hành động của chủ thể được mọi người trong cộng đồng thừa nhận và đánh giá cao khi chủ thể thực hiện hành vi ấy phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, thể hiện sự hài hòa về lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích của toàn xã hội.

- Tính cân bằng

HVVMĐT thể hiện sự hợp lý về mặt thao tác và cân bằng về mặt môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội. Môi trường xã hội đa dạng tác động đến các chủ thể và chủ thể phải thích ứng với những tác động này nhƣng không làm phá vỡ mối quan hệ tích cực và biện chứng giữa các môi trường, không làm mất đi sự thống nhất về giá trị giữa các chuẩn mực chung thể hiện trong các giá trị của môi trường xã hội vi mô (gia đình, nhà trường, nhóm bạn, cộng đồng dân cư...)

- Tính phù hợp

HVVMĐT luôn hướng đến sự hợp lý, phù hợp với kỳ vọng của xã hội và phản ánh tính hiện đại trong cách thức ứng xử của mỗi cá nhân. HVVMĐT là hành

vi cá nhân nhƣng bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi mong đợi và áp lực của cộng đồng.

- Tính thẩm mỹ

HVVMĐT luôn hướng tới vẻ đẹp của con người, của xã hội, đó là những hành vi đẹp cả về hình thức thể hiện lẫn đẹp về các giá trị bên trong nó.

- Tính đại diện

HVVMĐT là những hành vi xã hội, là hành vi của nhóm xã hội, trong đó các cá nhân thực hiện hành vi này thể hiện đƣợc tính đại diện của mình. HVVMĐT của thanh niên là hành vi đại diện cho những người trong độ tuổi thanh niên phản ánh những đặc điểm tâm lý - xã hội của thanh niên và đƣợc thể hiện trong từng cá nhân.

HVVMĐT là của mỗi cá nhân mang tính đặc trƣng của hành vi xã hội, do đó chịu ảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý chủ quan của thanh niên, ảnh hưởng bởi kỳ vọng, yêu cầu của xã hội đối với thanh niên.

- Tính chuẩn mực

HVVMĐT là hành vi thể hiện và bảo đảm các chuẩn mực của hành vi.

HVVMĐT với ý nghĩa là hành vi xã hội, là hành vi của một chủ thể đƣợc thể hiện trong mối liên hệ với người chung quanh và chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội sẽ định hướng và điều chỉnh hành vi của con người khi cá nhân thực hiện các hành vi trong cộng đồng hay trong một nhóm xã hội. Sự sai lệch chuẩn hành vi cũng có nhiều mức độ khác nhau. Thông thường có hai mức độ sai lệch:

Ở mức độ thấp: Là những hành vi không bình thường nhưng không ảnh hưởng chung tới cộng đồng, đến đời sống cá nhân hay cộng đồng.

Ở mức độ cao là hầu hết các hành vi của cá nhân, từ hành vi trong sinh hoạt đến lao động sản xuất, vui chơi giải trí... Những hành vi sai lệch này ảnh hưởng đến cá nhân và đời sống chung của cả cộng đồng. Trường hợp này thường là do rối loạn hành vi bệnh lý, cần phải đƣợc khám và điều trị ở các tổ chức y tế.

1.3.2.3. Tiêu chí hành vi văn minh đô thị

- HVVMĐT là những hành vi được thực hiện một cách thường xuyên không phụ thuộc vào tính chất của tình huống hay của môi trường hoặc các yếu tố bất thường nào khác. HVVMĐT là những hành vi mang tính nhận thức cao

- HVVMĐT là những hành vi thể hiện đặc điểm của người dân đô thị, phù hợp với các đặc trƣng của đô thị, phù hợp với chuẩn mực luật pháp.

- HVVMĐT là những hành vi thể hiện văn hóa của chủ thể, phản ánh trình độ văn hóa của chủ thể, không phụ thuộc vào các đặc tính xã hội cá nhân của chủ thể, không phụ thuộc vào thành phần xuất thân của chủ thể.

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Hành Vi Văn Minh Đô Thị Của Thanh Niên Thành Phố Hồ Chí Minh (Trang 32 - 38)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(194 trang)