Hoạt động giáo dục đạo đức

Một phần của tài liệu luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trung tâm giáo dục thường xuyên và kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh đồng tháp (Trang 23 - 27)

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1. Hoạt động giáo dục đạo đức

1.2.1.1. Hoạt động

Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động:

Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Như vậy, quan điểm trên đồng nhất hoạt động của con người và hành vi của con vật.

Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người; là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập. Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá.

Quá trình đối tượng hóa là quá trình chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm.

Quá trình chủ thể hóa là quá trình chuyển từ phía khách thể vào bản thân chủ thể những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân bằng cách chiếm lĩnh thế giới.

Như vậy, có thể hiểu hoạt động một cách khái quát là: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới bên ngoài, là hệ thống các thao tác hay hành vi ứng xử có ý thức, có mục đích của con người

nhằm tạo ra sản phẩm cho xã hội và cho chính bản thân con người. Hoạt động giúp con người khám phá cải tạo thế giới và là điều kiện để con người phát triển, tồn tại.

1.2.1.2. Giáo dục

Thuật ngữ “Giáo dục” theo tiếng Anh là “Education” – vốn có gốc từ tiếng La tinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra”. Có thể hiểu giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục. Giáo dục bao gồm việc dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp). Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh. Quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố có quan hệ biện chứng với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá.

1.2.1.3. Đạo đức

Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”[20].

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là sự thống nhất trong tư tưởng và phong cách. Người có đạo đức là người biết kính yêu nhân dân, khiêm tốn, thật thà, thẳng thắn, có thái độ cầu thị, làm việc chí công vô tư, không kiêu ngạo, không giấu dốt. Ở người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo hành động, lối sống.

Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ thì đạo đức là một lĩnh

vực của ý thức xã hội, là một mặt hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung (của tập thể ,của xã hội) và lợi ích riêng (của cá nhân) nhằm bảo đảm trật tự xã hội và khả năng phát triển xã hội và cá nhân. Để giải quyết các mâu thuẫn đó, một trong những phương thức của xã hội là đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị, được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận, lương tâm[18].

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu đạo đức ở hai góc độ:

- Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động và con người với chính bản thân mình.

- Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và với chính bản thân mình.

Tác giả hiểu “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên”.

Đạo đức có các chức năng cơ bản là: Chức năng nhận thức; Chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi.

Ba chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau: có nhận thức đúng về xã hội, về những quan điểm, những hành vi, những chuẩn mực đạo đức thì

mới giúp con người định hướng được lý tưởng, tình cảm, thái độ ứng xử với cộng đồng và môi trường, mới hình thành được những quan điểm, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản được xã hội chấp nhận, mới thấy được giá trị của nó. Từ đó, con người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân mình để điều chỉnh hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức của xã hội.

1.2.1.4. Hoạt động giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một quá trình giáo dục bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ phận khác như: giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp…

Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. Từ đó, giúp thế hệ trẻ có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên…

Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS chuyển những chuẩn mực, qui tắc, nguyên tắc đạo đức… từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng mình, mà mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội. GDĐĐ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những khái niệm, những tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của HS.

Như vậy, “Hoạt động GDĐĐ là những hoạt động sư phạm, có mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội”.

Một phần của tài liệu luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trung tâm giáo dục thường xuyên và kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh đồng tháp (Trang 23 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(186 trang)
w