Nội dung GDĐĐ cho HS rất rộng, bao quát nhiều vấn đề thuộc nhân sinh quan mà tựu chung nhất là xoay quanh trục "Chân-Thiện-Mỹ" và truyền thống văn hóa dân tộc, địa phương. Nội dung GDĐĐ căn cứ vào các nhóm chuẩn mực đạo đức của xã hội (về nhận thức tư tưởng, chính trị, về nghĩa vụ công dân, hướng vào những đức tính hoàn thiện bản thân, hướng vào tính nhân văn, lợi ích cộng đồng, xây dựng môi trường sống) bám sát vào nội dung chương trình các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục khác kết hợp với giáo dục văn hóa, truyền thống dân tộc, địa phương như:
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc;
Giáo dục lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ.
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc.
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác. Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng.
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh:
Giáo dục các em biết kính trọng Ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biết kính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với Thầy Cô giáo; Đối với em nhỏ phải có sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung. Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi. Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể.
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm, bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết
bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
Để hoạt động GDĐĐ đạt hiệu quả cao, chúng ta cần GDĐĐ cho học sinh với những nội dung cơ bản sau:
- Giáo dục tri thức đạo đức: Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi của ý thức con người. Nó là kết quả của quá trình nhận thức thế giới, là sự phản ánh cuả thế giới khách quan. Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều cấp độ khác nhau, trong đó tri thức đạo đức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách con người. Tri thức đạo đức thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người được hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa. Tri thức đạo đức lí luận là những tư tưởng, quan điểm đạo đức được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù đạo đức. Tri thức đạo đức thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống của con người trong cuộc sống đó.
- Giáo dục lý tưởng đạo đức: Lý tưởng đạo đức là quan niệm về cái cần vươn tới và cũng như mọi lý tưởng xã hội khác, lý tưởng đạo đức bao hàm yếu tố lựa chọn, mong muốn, khao khát vì vậy nó chứa đựng yếu tốt tình cảm đạo đức. Nó là sự thống nhất giữa tình cảm và lý trí. Việc cá nhân lĩnh hội được lý tưởng đạo đức tiên tiến của thời đại vừa khẳng định sự phát triển đạo đức của cá nhân vừa là điều kiện đảm bảo chắc chắn cho cá nhân trong mọi hoạt động mang ý nghĩa xã hội.
- Giáo dục giá trị đạo đức: Giá trị đạo đức gồm: Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, giá trị đạo đức cách mạng và tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc: Đó là chuẩn mực của người Việt Nam để xác định thiện-ác, phải-trái, tốt-xấu; chi phối lương tâm, hạnh phúc, nghĩa vụ của người Việt Nam; chủ nghĩa yêu nước; lòng yêu
thương con người sâu sắc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; đức tính cần kiệm; lòng dũng cảm, bất khuất; đức tính khiêm tốn, giản dị, trung thực …;
+ Về giá trị đạo đức cách mạng: Đạo đức cách mạng là “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên hết. Không ngừng học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, thường xuyên phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình, cùng đồng chí mình tiến bộ”;
+ Về tinh hoa đạo đức nhân loại: Giá trị đạo đức phương Đông được thể hiện rõ nét trong Nho giáo, Phật giáo … Trong Nho giáo mặc dù có những yếu tố hạn chế nhưng lại chứa đựng nhiều giá trị đạo đức tiến bộ. Mặt tích cực của đạo đức Nho giáo đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; là một lý tưởng về một xã hội bình trị; tức là ước vọng về một xã hội an ninh, hòa mục, một thế giới đại đồng; là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính.
- Giáo dục tình cảm đạo đức: Tình cảm đạo đức có vai trò quan trọng trong việc thực hiện những hành động đạo đức. Nó vừa là động lực, vừa là năng lực đạo đức của con người, một yếu tố không thể thiếu trong cấu trúc nhân cách. Nhờ đó, con người mới có thể thực hiện những hành động đạo đức. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc giáo dục tình cảm đạo đức qua một số biện pháp sẽ giúp mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành những con người có đủ tâm, đủ tài.
- Giáo dục ý thức đạo đức: Giúp học sinh hiểu được các phạm trù đạo đức cơ bản, biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học. Có thái độ yêu thương tôn trọng người xung quanh; bước đầu hình thành một số phẩm chất cần thiết của người công dân như cần cù, sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm, có ý thức kỷ luật và tác phong, biết hợp tác trong công việc.