QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
2. Hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là một mạng lưới các quan hệ phân phối và chuyển dịch các đại lượng tiền tệ trong nội bộ và
giữa các chủ thể của nền kinh tế quốc dân.
Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà người ta có những
cách tiếp cận khác nhau để phân hệ thống tài chính theo các tiêu thức khác nhau. Dưới góc độ kinh tế chính trị học, nghiên cứu tài chính là nghiên cứu các mối quan hệ kính tế
được khái quát ở phạm trù này. Bởi vậy việc phân loại hệ
thống tài chính ở nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường
đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu của kinh tế chính trị, cách tiếp cận phù hợp nhất là dựa vào sự phân chia nền kinh tế thành các khu vực, kết hợp với đặc điểm hình thành
và sử dụng nguồn tài chính ở các chủ thể để phân hệ thống
tài chính thành các phân hệ. Trên quan điểm đó, hệ thống
tài chính ở nước ta hiện nay được phân thành các phân hệ sau đây:
- Tài chính nhà nước (trong đó ngân sách là nòng cốt).
- Tài chính các doanh nghiệp, các quỹ khác nhau.
- Tài chính dân cư.
- Tài chính các tổ chức chính trị - xã hội.
a. Tài chính nhà nước
Tài chính nhà nước là hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị giữa nhà nước với các chủ thể khác
của nền kinh tế, thông qua đó hình thành, sử dụng nguồn tài chính tập trung là ngân sách nhà nước, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Nói cách khác, tài chính nhà nước là một hệ thống các
mối quan hệ phân phối hình thành nguồn thu và các mối
quan hệ trong phân phối cho các nhu cầu chỉ tiêu của cơ quan quản lý nhà nước.
Tài chính nhà nước bao gồm tài chính các cấp, các ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Trong hệ thống tài chính, tài chính nhà nước giữ vai trò
chỉ đạo chỉ phối toàn bộ hệ thống vì nhà nước nắm nguồn tài chính lớn nhất so với bất cứ chủ thể nào khác trong nền kinh tế. Nguồn tài chính này thể hiện ở số thu vào ngân sách nhà nước hàng năm, ở giá trị bằng tiền của tất cả các tài sản nhà nước quản lý. Với nguồn tài chính to lớn đó cùng với chính sách thu - chi, tài chính nhà nước có tác động trực tiếp đến tình hình tài chính của các chủ thê khác,
kích thích họ điều chỉnh phân phối nguồn tài chính của
mình hướng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của dat nước dé đạt được lợi ích tối đa của mình.
_ Quản lý vận hành tài chính nhà nước dựa trên hệ thống luật pháp chính sách thu - chi tài chính nhà nước, từ đó tổ
chức bộ máy thực thi các quan hệ thu - chỉ bao gồm thu các loại thuế, thu từ các dịch vụ của các tổ chức thuộc bộ máy
quản lý nhà nước, thu từ thực hiện lợi ích kinh tế các tài sản nhà nước quản lý giao cho các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng, thu từ nhà nước vay nợ và nhận viện trợ; tổ chức bộ máy thực thí các quan hệ trong chi tiêu nguồn tài chính nhà nước; tô chức bộ máy quản lý, kiểm tra giám sát quá trình hình thành và sử dụng nguồn tài chính nhà nước. Tiến hành kế hoạch hóa thu - chỉ tài chính nhà nước cho thời kỳ dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, lập kế hoạch thu - chỉ tài chính nhà nước hàng năm, còn gọi là bảng dự toán ngân sách nhà nước năm.
Theo dõi ghi chép, phản ánh tổng hợp kết quả hoạt động
thu và chỉ tiêu nguồn tài chính nhà nước trong một khoảng
thời gian nhất định (thường tính trong l năm) được gọi là ngân sách nhà nước. Đó là hệ thống quan hệ tiền tệ giữa nhà
nước với các chủ thê trong nền kinh tế, quan hệ thu, chỉ của
Nhà nước đối với các chủ thể kinh tế - xã hội. Vì thế, người
ta thường quan niệm ngân sách nhà nước là bảng dự toán thu, chí của Nhà nước trong l năm, hoặc ngân sách nhà nước là bảng tổng hợp thu, chi nhà nước trong 1 năm. Nhưng định nghĩa đó đã nói lên ngân sách nhà nước là công cụ quản lý
tài chính nhà nước, từ công tác kế hoạch hóa thu, chỉ đến công tác kế toán thu, chỉ tài chính nhà nước.
Đến hết thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thu ngân sách nhà
nước từ nội bộ nền kinh tế quốc dân chưa đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Toàn bộ chỉ tích lũy và một phần chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước phải dựa vào nguồn viện trợ và vay nước ngoài. Số
thiếu hụt được bù đắp bằng cách phát hành tiền để đáp
ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước. Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX nền kinh tế nước ta đã khởi sắc, có tốc độ tăng trưởng cao và liên tục. Bình quân 5 năm (1991- 1995) tốc độ tăng GDP là 8,2%/năm. Năm năm (1996- 2000) là 7%/năm. Tình hình đó làm cho mối quan hệ giữa thu và chi tài chính nhà nước được cải thiện ngày
càng tốt hơn. Đánh giá tình hình tài chính nhà nước 5 năm (1991-1995), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIH
của Đảng ghi nhận: “Lĩnh vực tài chính, tiền tệ đạt tiến
bộ đáng kẻ, nỗi bật nhất là chặn được nạn lạm phát cao, từng bước đấy lùi lạm phát... Đã hình thành được hệ thống thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh
tế, nâng dần tỷ lệ động viên thuế và phí trong GDP, tạo thành nguồn thu chính của ngân sách nhà nước, bảo đảm toàn bộ chí thường xuyên và tăng dần phần dành cho đầu tư phát triển. Tỷ lệ thiếu hụt ngân sách đã được kiềm chế;
chấm đứt việc phát hành tiền để bù đắp bội chỉ, thay bằng
vay của dân, của nước ngoài”'.