QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Trong 5 Trong 5 năm (1996-2000), tổng thu ngân sách nhà nước
tăng bình quân hàng năm trên 8,7%, cao hơn mức tăg bình
quân GDP. Thu từ thuế và phí chiếm 94,2% tổng số thu.
Mức động viên bình quân hàng năm vào ngân sách nhà
nước bằng 20,3% GDP.
“Chi tiêu ngân sách nhà nước được cơ cầu lại theo hướng tiếp tục xóa bao cấp trong chỉ ngân sách, tăng chỉ đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế... Tổng chỉ ngân sách nhà nước
bình quân hàng năm bằng khoảng 24,2% GDP; trong đó chỉ
cho đầu tư phát triển tăng bình quân hàng năm khoảng 14,6%, chiếm khoảng 27% tống chi ngân sách; chi thường
xuyên tăng bình quân hàng năm là 6%, chiếm 59%; chỉ trả
nợ, viện trợ hàng năm chiếm khoảng 14%.
! Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ VIIT, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1996, tr.155.
Mức bội chỉ ngân sách bình quân hàng năm khoảng 4%
GDP”, |
_, Bén canh nhitng thành tựu đã đạt được, tài chính nhà
nước còn bộc lộ một số hạn chế: “Chính sách thuế chưa thật
hợp lý, chưa bao quát hết các nguồn thu. Thất thu ngân sách, nợ thuế và khê đọng thuế còn lớn. Việc sử dụng và
quản lý nguồn tài chính quốc gia còn lãng phí, kém hiệu
quả... Các khoản chi bị dàn trải cho nhiều mục tiêu, hạn chế hiệu quả sử dụng ngân sách”?.
Những hạn chế và khuyết điểm trên đây phải có giải pháp khắc phục để phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo của tài chính nhà nước trong hệ thống tài chính.
b, Tài chính doanh nghiệp
Để làm rõ vị trí, vai trò của tài chính các doanh nghiệp trong hệ thống tài chính, chúng ta tìm hiểu tài chính các doanh nghiệp theo lĩnh vực kinh doanh.
Các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa là những doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ các loại hàng hóa, là nơi tạo ra
nguồn tài chính cho nền kinh tế quốc dân đem lại thu nhập
cho các chủ thể trong nền kinh tế. Vì vậy, tài chính các
doanh nghiệp này là cơ sở, là điểm xuất phát của toàn bộ hệ
thống tài chính.
©? Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, tr.231-232, 253.
Các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ hay kính doanh các nguồn tài chính “nhàn rỗi” còn gọi là các tô chức tài
chính trung gian bao gồm các ngân hàng thương mại, các hợp tác xã tín dụng, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm. Hoạt động của những doanh nghiệp này chủ yếu là huy động nguồn tài chính để cho vay, nó không trực tiếp tạo ra giá trị nguồn tài chính, nhưng nó làm cho các nguồn tài chính nhàn rỗi ở các chủ thể trong nền kinh tế được đưa vào hoạt động để tạo ra nguồn tài chính. Do đó, tài chính của các tổ chức tài chính trung gian có vai trò rất quan trọng trong việc làm cho mọi nguồn tài chính trong nên kinh tế được sử dụng vào quá trình tái sản xuất, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính.
Những kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế trong
thời gian qua là kết quả trực tiếp của hoạt động tài chính
các doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh số lượng các doanh nghiệp làm cho nguồn tài chính của các doanh nghiệp đã được tăng cường, nhiều doanh nghiệp đã vượt qua được những khó khăn để đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường, tạo lập các tiền đề và điều kiện để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kinh doanh có hiệu quả, đóng góp
nhiều cho ngân sách nhà nước: năm 2000, chỉ riêng đoanh
nghiệp nhà nước đóng góp 39,5% GDP; 39,2% tổng thu
ngân sách nhà nước, trên 50% kim ngạch xuất khẩu. Nộp
thuế thu nhập 10 năm (1991-2000) gần 64.000 tỷ đồng'.
! Xem Tạp chí Cộng sản, số 3, tháng 1-2002, tr.14.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, tài chính các doanh nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế và
khuyết điểm, biểu hiện trên các mặt:
- Nguồn tài chính của các doanh nghiệp còn nhỏ bé.
Năm 2000, số doanh nghiệp nhà nước có vốn trên 10 tỷ đồng chiếm 25% tổng số doanh nghiệp nhà nước', doanh nghiệp tư nhân vốn dưới 5 triệu đồng chiếm hơn 50% số
lượng doanh nghiệp tư nhân.
- Ngoài những doanh nghiệp mới xây dựng và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phần lớn doanh nghiệp còn lại tình trạng thiết bị lạc hậu so với các nước từ
20 đến 30 năm nhưng thiếu nguồn tài chính để đổi mới
công nghệ, đang gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh.
Riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước, đến năm 2000, số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm 40%.
Doanh nghiệp bị lễ liên tục là 29%.
- Thiếu nguồn tài chính tự có, nợ nần khó trả ngày càng tăng, làm cho nền tài chính quốc gia chưa lành mạnh, tài chính nhà nước thêm khó khăn. Riêng doanh nghiệp nhà nước trong 4 năm (1997-2000) ngân sách nhà nước đã đầu tư thêm cho doanh nghiệp nhà nước 8.200 tỷ đồng: ngoài ra, miễn giảm thuế 1.351 tỷ đồng, xóa nợ
1.088 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ
! Xem, Tạp chí Cộng sản, số 7, thắng 3-2002, tr. 19.
đồng, giảm tính khẩu hao 200 tỷ đồng và cho vay ưu đãi dau tu 9.000 ty déng!.
- Trong điều kiện nguồn tài chính hạn hẹp nhưng việc sử dụng nguồn tài chính trong một số doanh nghiệp nhà nước còn lãng phí, thất thoát, tham những. Chức năng giám
đốc tài chính đã bị buông lỏng.
Trên đây là những khó khăn và yếu kém của tải chính
đoanh nghiệp đang làm cản trở sự lớn mạnh của từng doanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng cũng như của cả nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc dân.
c. T3i chính dân cư
Tài chính dân cư bao gồm tài chính các hộ gia đình và
tài chính cá nhân người laò động sống độc lập.
Sự hình thành nguồn tài chính dân cư chủ yếu là từ
phân phối lần đầu do đóng góp lao động vả tài sản đưa vào sử dụng đem lại. Một bộ phận thông qua các hình thức phân phối lại từ quỹ phúc lợi, quỹ bảo hiểm. Ngoài ra một bộ phận dân cư còn có nguồn tài chính được hình thành từ sự trợ giúp của thân nhân ở trong và ngoài nước.
Phân phối sử dụng nguồn tài chính của dân cư là để
thực hiện tái sản xuất các mặt hoạt động của từng gia đình và cá nhân, bao gồm tái sản xuất sức lao động và tái đầu tư
! Xem Tạp chí Cộng sản , số đặc biệt, tháng 2-2002, tr.33.
vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cho nên tải chính
dân cư là tiền đề, là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã
hội. Nguồn tài chính của dân cư phản ảnh mức độ giàu có của nhân dân.
Từ một nền kinh tế mang nặng tính chất hiện vật
chuyển sang kinh tế thị trường thu nhập bình quân đầu
người tất thấp, đến năm 2000 chỉ vào khoảng 400 USD/năm. Điều đó chứng tỏ nguồn tài chính đân cư ở nước ta còn rất nhỏ bé. Mặt khác, sự phân hóa thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư, giữa các ngành vùng đã tăng lên. Trước
tình hình đó, chúng ta đã kết hợp nhiều biện pháp: điều tiết
thu nhập ở những người có thu nhập cao để hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp; tăng chi từ ngân sách nhà
nước đề thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo; phát
động phong trào toàn xã hội chăm sóc các gia đình thuộc diện chính sách.
Thực hiện chủ trương đó, bình quân hàng năm đã huy động được trên 100 tỷ đồng cho quỹ đền ơn đáp nghĩa. Hầu hết các địa phương đã trợ giúp nâng mức sống của các gia đình chính sách ngang với mức sống trung bình của người
dân địa phương. Từ năm 1992 đến nay, nhà nước đã đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo