a. Thu trang
Qua những năm đổi mới, nước ta đã thành công trong
việc chuyền fi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tuy vậy, nền kinh tế thị trường của nước ta mới ở giai đoạn
sơ khai, chưa đạt đến trình độ một nền kinh tế thị trường hiện đại, thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Trình độ phát triển của sản xuất hàng hóa còn thấp do phân công lao động xã hội kém phát triển: gần 80% dân cư
sống ở nông thôn, trên 70% số người đang trong độ tuôi lao
động làm nghẻ nông, sản xuất lương thực vẫn là ngảnh sản xuất chính chiếm đại bộ phận diện tích canh tác, tỷ suất hàng hóa lương thực thấp; chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính; công nghiệp chế biến nông sản còn nhỏ yếu;
ở vùng núi, vùng sâu vẫn còn kinh tế tự nhiên.
- Hệ thống thị trường chậm được hình thành, thiếu
đồng bộ và có nhiều khiếm khuyết. Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong
nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hóa thống nhất.
Thị trường hàng hóa - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập
lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm rối loạn thị trường).
Thị trường hàng hóa sức lao động mới manh nha, đã ra đời một số trung tâm giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao | động, nhưng đã nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực. Nét nổi bật của thị trường này là cung về sức lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có sức lao động không tìm được việc làm.
Thị trường vốn còn sơ khai. Hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước tiềm ấn nhiều rủi ro; thị trường
chứng khoán đã ra đời, nhưng chưa có nhiều “hàng hóa” để mua - bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham
gia thị trường này, chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp lớn. Hoạt động của,thỊ trường chứng khoán thiếu sôi - động và có nhiều bắt trắc xảy ra.
Thị trường ngầm về đất đai phát triển mạnh, mang nặng tính tự phát và yếu tố đầu cơ. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, còn nhỏ bé.
- Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, nhiều
loại hình sản xuất hàng hóa cùng tồn tại, đan xen nhau,
trong đó sản xuất hàng hóa nhỏ phân tán còn phổ biến.
- Quá trình chuyển đổi kinh tế mang nặng tính chất tự cung tự cấp, nền kinh tế hàng hóa diễn ra cùng với quá trình chuyển cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Quá trình trên đòi hỏi sự phát triển phân công lao động xã hội, phát triển kết cầu hạ tang... còn quá trình dưới lại đòi hỏi xóa bỏ cơ chế
quản lý cũ, hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý mới.
Phải kết hợp ca hai quá trình trên mới có thể phát triển sản
xuất hàng hóa ở nước ta.
- Sự hình thành thị trường trong nước gắn với việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế -
kỹ thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác.
_ Toàn cầu hóa và khu vực hóa về kinh tế đang đặt ra cho các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng
những thách thức hết sức gay gắt. Nhưng đó là xu thế khách
quan tất yếu, nên không thể đặt vẫn đề tham gia hay không tham gia mà chỉ có thể đặt vấn đề: tìm cách xử sự với xu
hướng đó như thế nào? Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị
tốt để chủ động tham gia khu vực hóa và toàn cầu hóa, tìm ra “cái mạnh tương đối” của nước ta, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực, nhằm thúc đây công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân.
- Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội còn yếu kém:
+ “Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ
và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm”!.
+ Chất lượng của các chiến lược và quy hoạch được xây dựng còn thấp, chậm được bỗ sung, điều chỉnh kịp thời.
+ Tình trạng phân tán, dàn trải, chưa tính toán kỹ hiệu quả trong đầu tư từ vốn ngân sách và tín dụng ưu đãi của Nhà nước; lãng phí và thất thoát lớn trong đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và trong tài chính doanh nghiệp nhà nước.
Nợ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách rất lớn.
Cải cách hành chính chậm, bộ máy quản lý nhà nước nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
'b, Những giải pháp chủ yếu để phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thực hiện nhất quán chính sách phát triển
kinh tế nhiều thành phần, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước và kinh tế tập thê, để kinh tế nhà nước vươn lên đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
! Đáng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIH, Nxb.Chính trị quôc gia, H.1996, tr.66.
thành nền táng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ
thể kinh tế thuộc tất cả các thành phần kinh tế phát triển sản
xuất hàng hóa, dịch vụ trong mọi ngành kinh tế quốc dân, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và phát triển các
hình thức kinh tế tập thể kiểu mới.
Thứ hai, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân tạo sức mạnh cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, phát triển đồng bộ các loại thị trường bao gồm:
thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ,
thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, thị trường tiền tệ, thị trường bắt động sản, trong đó có
quyên sử dụng đất.
Hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng
khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường sự kiểm tra, giám
sát của Nhà nước, đề thị trường hoạt động năng động và có hiệu quả, có trật tự trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Han chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Thứ tự, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Phát huy những yếu tổ tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh.
- Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng
cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác đã phát triển, bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để hoạch
định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hợp lý
các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền
kinh tế.
- Nhà nước kiểm tra, kiểm soát, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô
của Nhà nước, như: nâng cao chất lượng công tác xây dựng
các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội; tăng cường thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế; ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công
nghệ trong dự báo; kiểm tra tình hình thực hiện ở các cấp vĩ
mô và doanh nghiệp. |
- Bao dam tinh minh bach, céng bang trong chi ngan sách nhà nước. Tăng tỷ lệ chỉ ngân sách theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và hiệu quả quản lý kinh tế, tài chính. Tăng
chi ngân sách cho các mục tiêu xã hội trọng điểm. Nâng cao hiệu quả các chương trình trọng điểm.
- Nhà nước đầu tư vốn phát triển từ ngân sách nhà nước, căn cứ vào hiệu quả kinh tế - xã hội. Chuyển cơ chế phân bố nguồn vốn vay nhà nước mang tính hành chính sang cho vay theo cơ chế thị trường, xóa bỏ bao cấp thông
qua tín đụng đầu tư, đồng thời phát triển các quỹ hỗ trợ phát
triển. Hoàn thiện phương thức quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, cải cách các thủ tục, phân công phân cấp rõ rảng, rành mạch trong thực hiện các dự án đầu tư. Tăng cường quản lý nợ chính phủ, hoàn thiện cơ chế quản lý nợ nước ngoài cho phù hợp với tình hình mới.
- Tiếp tục cải cách hệ thông thuế phù hợp với tình hình
đất nước và các cam kết quốc tế, đơn gián hóa các sắc thuế;
từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất, không phân biệt đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Nuôi dưỡng
nguồn thu và thu đúng thu đủ theo quy định của pháp luật.
Hiện đại hóa trong công tác quản lý thuế của Nhà nước.
Xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước
thành những đoanh nghiệp kinh doanh tiền tệ tự chú, tự
chịu trách nhiệm, có uy tín, đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Xóa bỏ sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động cho vay của ngân hàng thương _ mại nhà nước. Nâng cao năng lực giám sát của ngân hàng nhà nước và công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng thương mại. Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt theo cung - cầu ngoại tệ, từng bước thực hiện tự do hóa tỷ giá hối đoái trong sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Tách tín dụng ưu đãi của Nhà nước khỏi tín dụng thương mại, thành lập các ngân hàng chính sách.
Thứ năm, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập.
quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện nước ta.
Thứ sáu, nhà nước thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm đám bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công
bằng xã hội, như: thực hiện các chính sách xã hội hướng vào việc phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công
bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản
xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp và đi đôi với thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghẻo.