Tinh tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế chính trị mác lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam (Trang 77 - 88)

L TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

2. Tinh tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tất cả các nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nhất là những nước tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua chế

độ tư bản chủ nghĩa như nước ta, tất yếu phải tiến hành

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân. Bởi vì:

Một là, chỉ có công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới có thê xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chế độ mới, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước chung quanh, giữ được ổn

định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa”".

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của mỗi phương thức sản xuất

xã hội là tổng thể hữu cơ các yếu tô vật chất của lực lượng

! Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1994, tr.27.

sản xuất đạt được trong những điều kiện nhất định của tiến:

bộ khoa học và công nghệ, dựa trên đó, lực lượng lao động xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu

của xã hội. Trong lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế

- xã hội, bao giờ phương thức sản xuất sau cũng kế thừa cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất trước nó, từ

đó cải tạo, phát triển và hoàn thiện thành cơ sở vật chất - kỹ thuật cho bản thân mình. Ở những nước đã trải qua chủ

nghĩa tư bản thì khi cách mạng vô sản thành công, chủ

nghĩa xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, không phải tiến hành

công nghiệp hóa.

Những nước đó, khi bước vào thời kỳ xây dựng chủ

nghĩa xã hội chỉ cần điều chỉnh, bố sung và hoàn thiện cơ

sở vật chất - kỹ thuật đã đạt được theo yêu cầu của chế độ mới và tiếp tục ứng dụng những công nghệ mới nhất, hiện

đại nhất.

Các nước có nền kinh tế phát triển chưa cao và các

nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến, tiến

lên chủ nghĩa xã hội thì nhất thiết phải tiến hành công

nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, để xây dựng cơ sở vật chất -

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nhằm thay thế lao động thủ

công bằng lao động cơ khí hóa và một phần tự động hóa (khi có điều kiện) trong các ngành của nền kinh tế quốc

dân; đồng thời trên cơ sở trình độ đã đạt được của cơ sở vật

chất - kỹ thuật mới mà cải biến cơ cấu kinh tế lạc hau, qué

quặt, thúc đây quá trình phân công lao động xã hội, mở

rộng thị trường, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa

trong nước và quốc tế.

Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra lực lượng sản xuất mới về chất, tạo tiền đề cho sự hình thành nhiều

mối quan hệ mới kinh tế, xã hội, chính trị trong toàn xã hội.

Trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ từng bước được hình thành, mở rộng và củng có, đời sống của nhân dân sẽ dần được cải thiện, liên mỉnh công - nông - trí thức và chính quyền nhà nước sẽ được củng có và kiện toàn, cách mạng tư tưởng và văn hóa sẽ có nhiều điều kiện thực hiện; giai cấp công nhân được trưởng thành về số lượng và chất lượng. Sự giúp đỡ của

công nghiệp và thành thị đối với nông nghiệp và nông thôn

được tăng cường và có hiệu quả hơn; tạo ra nhiều điều kiện

để thực hiện từng bước sự bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng trong

nước. Điều đó đưa đến sự thống nhất ngày càng cao về chính trị và tinh thần trong xã hội.

Ba là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn đáp ứng yêu cầu khách quan của việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng, của sự thống nhất giữa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện mở rộng quan hệ kính tế đối ngoại,

chủ động hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế.

Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải

biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cầu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất

tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực

lượng sản xuất. Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thực chất là một cuộc cái biến cách mạng sâu sắc và

toàn điện, trước hết và chủ yếu là từ phát triển lực lượng sản

xuất, dẫn tới một loạt hệ quả tất yếu tác động tích cực đến các mặt của đời sống xã hội, hình thành những yếu tố của hình thái xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo đảm giành thắng lợi cho chủ nghĩa xã

hội. Vì thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

- Và là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

lI. NỘI DUNG CƠ BAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Ở NƯỚC TA

1. Chuyển lao động thủ công thành lao động sử dung máy móc, đồng thời ứng dụng những thành tựu của cách mạng

khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức, đề xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Kết hợp những bước tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội “đi tắt”, “đón đầu”, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học và công nghệ thế giới:

Một là, quan hệ giữa ứng dụng công nghệ hiện đại và

cải tiến công nghệ hiện có.

Thực hiện kết hợp nhiều trình độ công nghệ, khai thác tối

đa năng lực sản xuất và công nghệ hiện có, tranh thủ đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, trước hết ở những khâu có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nhất là đối với hàng xuất khẩu, ở những ngành tác động trực tiếp tới việc nâng cao trình độ công nghệ của nhiều ngành khác.

Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại,

ưu tiên công nghệ it vốn, thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều việc làm, tranh thủ ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới,

chế tạo máy, năng lượng. Nói một cách cụ thể hơn là:

- Duy trì, cải tiến, nâng cao công nghệ truyền thống.

- Tranh thủ ứng dụng một cách sáng tạo những công nghệ nhập khẩu, từng bước tạo ra công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.

- Đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử đụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao.

Hai là, quan hệ giữa phát triển theo chiều rộng và phát

triển theo chiều sâu. Bảo đảm vừa mở rộng xây dựng cơ sở mới cần thiết, vừa nâng cao và hiện đại hóa các cơ sở hiện

có. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có,

càng về sau càng hướng mạnh vào phát triển theo chiều sâu.

Ba là, mỗi quan hệ giữa các loại quy mô của các doanh nghiệp.

Trong phát triển mới, cần ưu tiên các doanh nghiệp quy

mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, thu hồi vốn nhanh,

đồng thời chỉ xây dựng những công trình có quy mô lớn khi

thật cần thiết và có hiệu quả.

Khi xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mới, thực hiện cơ khí hóa các ngành của nền kinh tế quốc dân, phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề như: xây đựng phải đi đôi với

quản lý, sử dụng để phát huy có hiệu quả, kết hợp chặt chẽ

giữa tổ chức lại sản xuất với phấn công lao động trong từng đơn vị kinh tế, trong phạm vi toàn xã hội; giữa tổ chức sản xuất và phương thức hoạt động của nền kinh tế được cơ khí hóa với cơ chế quản lý và hệ thống các chính sách, pháp luật; giữa sản xuất cơ giới với kết cấu hạ tầng sản xuất và các điều kiện khác liên quan đến sản xuất; giữa đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh với đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ

thuật và công nhân lành nghề.

Bốn là, giải quyết tốt mỗi quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và củng cố quan hệ sản xuất, đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao.

2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa là quá trình hỉnh thành và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng tối ưu và hợp lý

Hình thành và biến đổi cơ cầu nền kinh tế quốc dân là

một nội dung quan trọng khác của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Sự phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liên một cách hữu cơ với quá trình phát triển phân công lao động xã hội; quá

trình hình thành và biến đối các ngành kinh tế trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội... Các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế tồn tại và hoạt động trong tông thể nền

kinh tế thống nhất. Chúng có mối liên hệ tất yếu khách quan dưới những hình thức tô chức sản xuất nhất định, hình

thành nên cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như một

chỉnh thé.

Giữa các ngành, các vùng và giữa các thành phần kinh tế có mối quan hệ mang tính cơ cấu, tạo nên hệ thống nhất các cơ cầu nhỏ nằm trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.

Nói cách khác, cơ cấu nền kinh tế quốc dân là tổng thể các

cơ cấu ngành, vùng và các thành phần kinh tế... Trong hệ thống các cơ cấu đó, cơ cấu ngành là quan trọng nhất, bao gồm những ngành giao thông vận tải, xây dựng cơ bản và các ngành trong lĩnh vực phân phối, lưu thông đủ sức phục vụ cho công nghiệp, nông nghiệp phát triển thuận lợi.

Để hình thành một cơ cấu nền kinh tế quốc dân hợp lý.

tương ứng với cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội cần phải kế hoạch hóa theo một chiến lược cụ thể, trên cơ sở điều tra cơ bản tình hình tài nguyên, khí hậu,

thời tiết, thủy văn của cả nước cũng như từng vùng, tính

toán đầy đủ các mối quan hệ giữa kinh tế trong nước với

kinh tế đối ngoại, giữa kinh tế với quốc phòng, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa yêu cầu và điều kiện thực hiện... Chiến

lược sẽ được bỗ sung và hoàn thiện dần dựa trên những phát hiện mới và những biến đổi mới về các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài.

Quá trình hình thành và hoàn thiện cơ cấu của toàn bộ

nền kinh tế quốc dân diễn ra từng bước gắn với các giai

đoạn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mỗi bước tiến của cơ sở vật chất - kỹ thuật. Nói cách khác, sự chuyên dịch

cơ cầu kinh tế từ lạc hậu, què quặt, ít hiệu quả sang cơ cầu

hợp lý, tối ưu, có hiệu quả cao gắn liền với bước tăng trưởng cơ sở vật chất - kỹ thuật do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, việc chuyển dịch cơ cầu kinh tế của nước ta được tiến hành theo hướng: phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu để ôn

định tình hình kinh tế - xã hội, đồng thời tăng tốc độ và tỷ

trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ để huy động triệt để các khả năng sản xuất hàng tiêu đùng và hàng

xuất khẩu, đây mạnh thăm dò khai thác, chế biến dầu khí và

một số loại khoáng sản; phát triển có chọn lựa một số ngành công nghiệp tư liệu sản xuất khác và các cơ sở thuộc kết cau ha tang, trong đó ưu tiên phát triển điện, giao thông, thủy lợi và thông tin liên lạc. Thực hiện chuyên môn hóa và

liên kết giữa các vùng, các địa phương, xây dựng các trung

tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp và nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng hóa.

a. Phương hướng chuyển đổi cơ cấu ngành kính tế quốc đân trong những năm trước mắt ở nước ta là:

- Đây nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

và nông thôn theo hướng hình thành nền công nghiệp hàng hóa lớn, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái

của từng vùng, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến; phát triển toàn diện kinh tế nông thôn cùng với xây dựng nông thôn mới, đưa nhanh tiến bộ khoa

học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác mọi tiềm năng về lao động, đất đai và các nguồn tài nguyên

khác đề đáp ứng nhu cầu tiêu đùng trong nước và xuất khâu.

- Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng

phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong

nước và đây mạnh xuất khẩu, như chế biến nông - lâm - thủy sản, may mặc, da giầy, điện tử - tin học, một số sản

phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng.

- Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy tác dụng nhanh, có hiệu quả. Phát triển những ngành công nghiệp, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn

thông, điện tử, tự động hóa. Chú trọng phát triển công nghệ

phần mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc độ vượt trội.

Phát triển công nghiệp quốc phòng cần thiết, kết hợp công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân dụng.

- Phát triển kinh tế dịch vụ: mở rộng thương nghiệp, đu lịch và các dịch vụ khác ở thành thị, nông thôn, đây mạnh

các hoạt động dich vụ đối ngoại.

- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng: cải tạo, mở rộng, nâng cấp xây dựng mới có trọng điểm kết cấu ha tang kinh tế ở những khâu yếu kém nhất đang cản trở sự phát

triển. Coi trọng xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội ở cả nông thôn và thành thị.

b. Cơ cấu kinh tẾ vùng và các địa bàn quan trọng

Các vùng đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nhà nước tiếp tục thúc đây các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò dau tau ting

trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng

hơn cho vùng nhiều khó khăn.

- Đồng bằng giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, phát triển công nghiệp nông thôn và mở mang dịch vụ. Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng tập trung sức phát triển lương thực, thực phẩm.

- Trung du, miền núi và Tây Nguyên chuyển sang kinh tế hàng hóa, phát huy thế mạnh lâm nghiệp, cây công

nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia súc, khoáng sản. Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung và chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến. Khai thác đi đôi với bảo vệ, tái tạo nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường. Hình thành các trung tâm công, thương nghiệp và đô thị gắn với các tổ hợp

kinh tế lãnh thổ.

- Vùng biển hướng vào khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, khai thác và chế biến dầu khí và các sa - khoáng, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ về hàng hải, mở mang dịch vụ. Khai thác tiềm năng kinh tế biển, phát triển kinh tế ở hải đảo.

- Các thành phó, thị xã, thị trấn là những trung tâm kinh tế và văn hóa, chủ yếu là trung tâm công nghiệp và thương

mại, trên từng vùng lớn, nhỏ. Việc phát triển đô thị phải phù hợp với vị trí, đặc điểm của mỗi vùng nhằm giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội cho sự phát triển của toàn vùng và cả nước, phát triển mạng lưới đô thị, không tập trung quá đông dân cư vào các thành phố lớn.

Một số địa bàn có vị trí quan trọng đối với từng vùng

và đối với cả nước (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu, Côn

Pao...) thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để phát huy mạnh mẽ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế chính trị mác lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam (Trang 77 - 88)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(248 trang)