Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế chính trị mác lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam (Trang 128 - 142)

KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

4. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan và từ đặc điểm kinh tế - xã hội nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta tồn tại nhiều hình

thức phân phối thu nhập. Đó là vì:

a. Nén kinh tế nước ta là nên kinh tế nhiều thành phân, có nhiều hình thức số hữu khác nhau

Sự phân phối luôn là kết quả tắt nhiên của những quan hệ sản xuất và trao đổi trong một xã hội nhất định. Vì vậy,

mỗi phương thức sản xuất có quy luật phân phối thu nhập cá nhân thích ứng với nó. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản

xuất quyết định mối quan hệ giữa các tập đoàn xã hội trong sản xuất cũng như trong phân phối.

— Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế dựa trên nhiều hình thức sở hữu. Nhà nước thừa nhận và đảm bảo bằng pháp

luật không chỉ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, mà cả sở

hữu tư nhân về tiền vốn, của cải để dành và các tài sản, thu nhập hợp pháp khác. Phù hợp với mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức sở hữu là một hình thức phân phối thu nhập

nhất định. Mặc dù các thành phần kinh tế ở nước ta không

tồn tại biệt lập mà đan xen vào nhau và hợp thành cơ cầu

kinh tế quốc dân thống nhất, nhưng chưa thể thực hiện phân

phối thu nhập theo một hình thức mà phải được thực hiện

theo nhiều hình thức. Chỉ có như vậy mới giải phóng được

mọi năng lực sản xuất, khai thác triệt để mọi tiềm năng kinh tế của đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội ở nước ta.

b. Trong nền kinh tẾ nước (4 còn ton tai nhiều phương thúc kính doanh khác nhau

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của

Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (hay kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Trong nền kinh tế này

có nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia. Mỗi thành phần kinh tế có phương

thức tổ chức sản xuất - kinh doanh khác nhau. Ngay trong

mỗi thời kỳ, kể cả thành phần kinh tế nhà nước cũng có các

phương thức kinh doanh khác nhau, do đó, kết quả và thu nhập là khác nhau.

Hơn nữa, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các chủ thể sản xuất, kinh doanh tham gia vào nền kinh tế đều có sự khác nhau về sở hữu của cải, tiền vốn, trình độ chuyên môn, tay nghề, năng lực sở trường, thậm chí khác nhau cả sự may mắn... Do đó, khác nhau về thu nhập.

Vì vậy, không thể có một hình thức phân phối thu nhập

thống nhất, trái lại có nhiều hình thức khác nhau.

2. Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã

khẳng định: “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết

quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua

phúc lợi xã hội””.

Như vậy, theo tỉnh thần Đại hội X của Đảng, trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có các hình thức phân phối sau đây:

- Phân phối theo lao động.

- Phân phối theo vốn đóng góp vào doanh nghiệp.

- Phân phối theo giá trị sức lao động.

- Phân phối qua Quỹ phúc lợi xã hội và Quỹ phúc lợi

tập thé.

Các hình thức phân phối này được áp dụng tùy theo từng thành phần kinh tế, như phân phối theo lao động được áp dụng trong các đơn vị kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; phân phối theo vốn và giá trị sức lao động được thực hiện trong các đơn vị kinh tế tư nhân, tư bản nhà nước...

! Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ X, Nxb .Chính trị quôc gia, H.2006, tr.78.

a. Phân phối theo lao động

- Phân phối theo lao động là một tắt yếu khách quan

Phân phối theo lao động được thực hiện trong các đơn

vị kinh tế dựa trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản

xuất (kinh tế nhà nước) hoặc các hợp tác xã cỗ phần mà phần góp vốn của các thành viên bằng nhau (kinh tế tập thể). Các thành phần kinh tế này đều dựa trên chế độ công

hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở các trình độ khác nhau. Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất, nên

tất yếu cũng làm chủ phân phối thu nhập. Vì vậy, phân phối phải vì lợi ích của người lao động. Có nhiều cách phân phối vì lợi ích của người lao động: phân phối theo nhu cầu, phân

phối bình quân và phân phối theo lao động.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ

nghĩa xã hội cũng chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu và cũng không thể phân phối bình quân mà chỉ có thể phân phối theo lao động.

Tất yếu phải thực hiện phân phối theo lao động trong

các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế dựa trên cơ sở

công hữu về tư liệu sản xuất là vì:

+ Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, chưa dén mức có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu cầu. Vì phân phối do sản xuất quyết định, cho nên “Quyền không bao giờ

có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển

văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”! và

“Làm tốt, làm nhiều: hưởng nhiều, làm xấu, làm ít: hưởng ít, có khi phải bồi thường lại cho Nhà nước”.

+ Sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới

việc mỗi người có sự cống hiến khác nhau, do đó phải căn

cứ vào lao động đã cống hiến cho xã hội của mỗi người để phân phối, nếu không sẽ rơi vào chủ nghĩa bình quân, có hại cho sự phát triển sản xuất.

+ Lao động chưa trở thành một nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phương tiện để kiếm sống, là nghĩa vụ và quyền lợi. Hơn nữa, còn những tàn dư ý thức, tư tưởng của xã hội cũ để lại, như: coi khinh lao động, ngại lao động chân tay,

chây lười, làm ít hưởng nhiều, so bì giữa cống hiến và

hưởng thụ...

Trong những điều kiện đó, phải phân phối theo lao động để khuyến khích người chăm, người giỏi, giáo dục kẻ lười, người xấu, gắn sự hưởng thụ của mỗi người với sự cống hiến của họ. Đây cũng là hình thức nhằm khắc phục những tàn dưa tư tưởng của xã hội cũ, không chỉ trong thời kỳ quá độ mà cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xác lập, phân

phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu.

- Nội dung và hình thức phân phối theo lao động

' CMác và Ph.Ănggphen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, t.19, tr.36.

? Hồ Chí Minh: 7oàw ¿ập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.8, tr.338.

Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu

nhập căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của từng người đã đóng góp cho xã hội. Theo quy luật này, người làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, có sức lao động ma không làm thì không hưởng; lao động có kỹ thuật cao, lao động ở những ngành nghề độc hại, trong những điều kiện khó khăn đều được hướng phần thu nhập thích đáng.

Căn cứ cụ thể để phân phối theo lao động là:

+ Số lượng lao động được đo bằng thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm làm ra;

+ Trinh độ thành thạo của người lao động và chất lượng

sản phẩm làm ra;

+ Điều kiện và môi trường lao động: lao động nặng nhọc, lao động trong hầm mỏ, lao động ở những vùng có nhiều khó khăn, xa xôi hẻo lánh như miễn núi, hải đáo...;

+ Tính chất của lao động;

+ Các ngành nghề cần được khuyến khích.

Phân phối theo lao động được thực hiện qua những

hình thức cụ thể,như: -

+ Tiền công trong các đơn vị sản xuất - kinh doanh;

+ Tiền thưởng:

+ Tiền phụ cấp;

+ Tiên lương trong các cơ quan hành chính sự nghiệp.

Phân phối. theo lao động như nói ở trên không có nghĩa

là mỗi người lao động sẽ được phân phối trực tiếp tất cả

những gì mà họ đã cống hiến cho xã hội, mà chỉ là một phần thu nhập quốc dân mà họ góp phần tạo ra.

- Tác dụng và hạn chế của phân phối theo lao động + Phân phối theo lao động là phương thức phân phối hợp lý, nó có tác dụng thúc đây mọi người nâng cao tỉnh thần trách nhiệm, thúc đây nâng cao năng suất lao động,

tỉnh thần và thái độ lao động, khắc phục những tản dư tư

tưởng cũ, củng có kỷ luật lao động...

+ Phân phối theo lao động còn có tác dụng thúc đây

mọi người nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hóa,

ổn định lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức

lao động xã hội.

+ Tác động mạnh đến đời sống vật chất và văn hóa của người lao động, vừa đảm bảo tái sản xuất sức lao động, vừa tạo mọi điều kiện cho người lao động phát triển toàn diện.

Phân phối theo lao động là hợp lý nhất so với các hình thức phân phối đã có trong lịch sử. Cơ sở của sự phân phối

đó là sự bình đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.

Song, theo C.Mác, phân phối theo lao động về nguyên

tác vẫn là sự bình đẳng trong khuôn khổ “pháp quyển tư

sản”, tức là sự bình đẳng trong xã hội sản xuất hàng hóa, theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá. Sự bình đẳng ở đây được hiểu theo nghĩa “quyền của người sản xuất

là rý lệ với lao động mà người ấy đã cung cấp”; sự bình đăng đó còn thiếu sót là “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn

người kia, người này vẫn giàu hơn người kia”2.

Phân phối theo lao động còn có những hạn chế nhưng

đó là những hạn chế không thể tránh khỏi trong giai đoạn

đâu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ khi nào cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân, năng suất của họ càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi

dào thì khi đó người ta mới có thể vượt ra khỏi giới hạn

chật hẹp của cái “pháp quyền tư sản” và xã hội mới có thể

thực hiện phân phối theo nhu cầu. Chỉ khi đó mới có sự

bình đẳng thực sự.

Một số điểm cẩn chú ý về phân phối theo. lao động trong nên kinh tế thị trường.

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phủ định tính tất yếu khách quan của quy luật phân phối theo lao động trong các thành phần kinh

tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa, vì cơ sở của phương thức phân phối này vẫn là chế độ công hữu về tư liệu sản

xuât. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, sự phân phối theo lao động có những đặc điểm cần chú ý sau đây:

!.? C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn zập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, t.19, tr,34, 35,

Một là, mỗi doanh nghiệp đều trở thành một chủ thể phân phối thu nhập cá nhân.

Trước đây, toàn bộ các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc chế

độ công hữu đều hoạt động theo một kế hoạch tập trung cao

độ. Nhà nước hầu như là chủ thể duy nhất của sản xuất và

phân phối. Do vậy, phân phối theo lao động được thực hiện thống nhất trên quy mô toàn xã hội.

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc chế độ công hữu, tuy vẫn nằm trong một thể thống nhất, nhưng là các đơn vị kinh tế tự chủ, tương đổi độc lập trong sản xuất - kinh doanh, chịu trách nhiệm về lỗ - lãi... nên có quyền tự chủ trong phân phối.

Hai là, phải thừa nhận sự ton tại khách quan của tức độ chênh lệch thu nhập giữa các đơn vị kinh tế.

Do hoạt động trong các ngành và lĩnh vực khác nhau với điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau cho nên

thu nhập nhiều, ít khác nhau là điều không thể tránh khỏi.

Điều quan trọng là làm sao giữ được mức chênh lệch hợp lý.

Cơ chế thị trường là cơ chế cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất - kinh doanh, trong đó có cơ sở đạt hiệu quả kinh

tế cao, có cơ sở đạt hiệu quả kinh tế thấp và có cả những cơ sở bị phá sản do thua lỗ triỀn miên. Bởi vậy, mức phân phối

theo lao động cao hay thấp còn tùy thuộc vào hiệu quả kinh

doanh, đó là điều không thê tránh khỏi.

Ba là, mức chênh lệch thu nhập qua phân phối theo lao động giữa các vùng.

Điều đó là do phương hướng quy hoạch và kế hoạch,

phân vùng kinh tế do nhà nước chủ động vạch ra trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do quy hoạch và kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ có khác nhau, cho nên

có những ngành, những vùng ưu tiên phát triển, vì thế mức

thu nhập có khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản phân phối thu nhập vẫn theo nguyên tắc phân phối theo lao động, kết

hợp với phúc lợi xã hội.

Do những tác động của quy luật phân phối theo lao động trong nền kinh tế thị trường cho nên đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước nhằm xử lý tốt mối quan hệ giữa lợi ích toàn dân, lợi ích của cơ sở xã hội - kinh doanh và lợi ích cá nhân người lao động. Không thê chỉ chú trọng lợi ích này mà xem nhẹ lợi ích kia. Nhưng trong bất cứ tình huống nào, sự can thiệp của Nhà nước cũng không được triệt tiêu

động lực sản xuất - kinh doanh của các chủ thể kinh tế. Do

vậy, một mặt, Nhà nước cần khống chế mức lương tối thiểu phù hợp với từng thời điểm lịch sử; mặt khác, cần có sự

điều tiết hợp lý, vừa khuyến khích cơ sở sản xuất - kinh

doanh nâng cao hiệu quả kinh tế hơn nữa, vừa ngăn chặn sự chênh lệch quá đáng về mức thu nhập trong nội bộ các cơ

sở thuộc chế độ công hữu, giữa tiền công và tiền lương của

các đơn vị sản xuất - kinh doanh và các đơn vị hành chính

sự nghiệp.

b. Kết hợp phân phối theo vốn và phân phối theo lao động

ở những đơn vị kính tế tập thể (hợp tác xã)

Hợp tác xã là hình thức liên kết tự nguyện của những

người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên

với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những

vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống. Hợp tác xã

được tô chức đưới nhiều hình thức đa dạng theo nguyên tắc

tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ.

Hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cỗ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên. Phân phối thu nhập cá nhân trong hợp tác xã được thực hiện trên cơ sở két quả lao động, đồng thời theo cỗ phần của mỗi thành viên đã đóng góp vào hợp tác xã.

e, Phân phối trong các thành phân kính tế cá thể

Trong thành phần kinh tế này, người lao động sử dụng tư liệu sản xuất tự có của mình, dựa vào lao động của mình

hoặc chủ yếu của mình để sản xuất - kinh doanh. Ở đây, thu

nhập cá nhân là phần còn lại sau khi đã bù đắp lại các yếu tố sản xuất đã tiêu dùng và các yếu tổ sản xuất phụ thêm để mở rộng sản xuất và sau khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của hình thức thu nhập này là phụ thuộc vào sở hữu tư liệu sản

xuất, vốn đầu tư và tài năng sản xuất - kinh doanh của chính những người lao động.

Do kết hợp chặt chẽ giữa biệu quả sản xuất với sự công hiến lao động của người lao động cho nên hình thức phân

phối này kích thích tính tích cực, sáng tạo của người lao động. Trong thành phần kinh tế cá thể này khó tránh khỏi sự tùy tiện xác định tỷ lệ giữa tích lũy để mở rộng sản xuất

với quỹ tiêu dùng cá nhân. Vì vậy, vấn đề này cần được đặt

ra để giải quyết sao cho mọi chủ thể kinh tế tiết kiệm tiêu dùng đầu tư mở rộng sản xuất.

d. Phân phối trong kính tế tr bắn nhà nước và kính tẾ tư

bản tr nhân" -

Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong

nước và nước ngoài. Việc phân phối ở đây dựa trên cơ sở sở hữu vốn cổ phần, sở hữu sức lao động.

Lợi tức cổ phần trong hình thức kinh tế tr bản nhà

nước là phần còn lại của bộ phận giá trị mới (v+m) sau khi đã khẩu trừ khoản trả công cho công nhân và những người quản lý, khoản thuế nộp cho nhà nước. Đó là một bộ phận của giá trị thặng dư được phân chia giữa nhà tư bản và nhà đại diện cho lợi ích toàn dân.

Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư

nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và thuê mướn nhân công, do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu và

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế chính trị mác lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam (Trang 128 - 142)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(248 trang)