QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1. Đặc điểm, chức năng, vai trò của tín dụng trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội a. Tinh tất yếu của tín dung
Tín dụng là một phạm trù của kính tế hàng hóa, phản
ánh mối quan hệ kinh tế giữa các chủ sở hữu nguồn vốn nhàn rỗi với các chủ sử dụng vốn trong nền kinh tế trên
nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc và lợi tức.
Tín dụng là một tất yếu trong nền kinh tế hàng hóa, nó
bắt nguồn từ đặc điểm chu chuyển vốn trong các đoanh nghiệp. Trong quá trình tái sản xuất xã hội, tại từng thời điểm thường xuyên có tình trạng một số doanh nghiệp có những khoản tiền vốn chưa cần sử dụng đến; trong khi đó có những doanh nghiệp đang thiếu vốn để thanh toán, để mở rộng quy mô kinh doanh. Trong đời sống của dân cư và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cũng diễn ra tình trạng tương tự như ở các doanh nghiệp. Mâu thuẫn
giữa thừa và thiếu vốn của các chủ thể trong nền kinh tế được giải quyết thông qua quan hệ tín dụng.
b. Đặc điểm của tín dụng trong thời lÿ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta phổ biến là sản xuất nhỏ mang tính chất tự cung tự cấp. Tương ứng với nền kinh tế ấy là những quan hệ tín
dụng đơn điệu và nghèo nàn (cho vay nặng lãi, các “hội tín dụng” đưới hình thức “họ” (hụi) phố biến ở nông thôn. Các
tổ chức tài chính trung gian (các ngân hàng thương mại, các
công ty tài chính, các công ty bảo hiểm...) chưa có điều kiện phát triển.
Trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng nhà nước và các hợp tác xã tín dụng ở nông thôn và thành thị, trong đó các hợp tác xã
tín dụng là “chân rết” của hệ thống ngân hàng nhà nước, thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư để ngân hàng cho vay theo kế
hoạch nhà nước.
Chuyển nền kinh tế mang nặng tính chất hiện vật, vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ tín dụng
giữa các chủ thể của nền kinh tế ngày càng phát triển sâu rộng và mở rộng quan hệ tín dụng quốc tế, làm phong phú
các hình thức tín dụng và xuất hiện nhiều tổ chức kinh
doanh tín dụng. Sự cạnh tranh và hợp tác giữa các tổ chức kinh doanh tín dụng, zzô( mặt là nhân tố thúc đây tăng trưởng kinh tế; mặt khác, cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng là nhân tố gây rối loạn nền kinh tế, biến các quan hệ tín dụng thành sự lạm dụng, chiếm đoạt.
Vì vậy, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức kinh doanh tính dụng là yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
c, Chức năng của tín dung
Tín dụng là một phân hệ của các quan hệ tài chính. Tín
dụng cũng có hai chức năng là phân phối và giám đốc.
Song, phân phối và giám đốc của tín dụng có những nét khác biệt.
- Chức năng phân phỗi
Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông qua các hình thức phân phối lại một bộ phận vốn
trong xã hội, dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn
trả đúng kỳ hạn và hiệu quả.
Chức năng.phân phối của tín dụng được thực hiện
thông qua cơ chế “thu hút? (hay huy động) các nguồn vốn
nhàn rỗi từ các chủ thể trong và ngoài nước để “đưa vào”
(hay cho vay) hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng:
“thu hồi” vốn cho vay theo kỳ hạn và “tham dự phân phối”
ở các cơ sở đi vay theo số lượng vốn cho vay với tỷ suất lợi tức thỏa thuận trên hợp đồng vay vốn.
- Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc của tín dụng xuất phát từ đặc điểm quyền sở hữu vốn tách rời quyền sử dụng vốn và quyền được bán quyền sử dụng vốn đó cho khách đến vay. Người có vốn cho vay luôn quan tâm đến sự an toàn của vốn và
hiệu quá sử dụng vốn để có thể thu hồi đúng kỳ hạn cùng
với lợi tức. Vì vậy, người cho vay phải kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh của người ổi vay từ việc xem xét tư
cách pháp nhân, tình hình tài chính và khả năng trả nợ, triển
vọng của việc sử dụng vốn vay. Như vậy, trước khi cho vay
phái xem xét kỹ các điều kiện vay. Khi đã cho vay phải
kiểm tra hoạt động kinh doanh của người sử dụng vốn vay
theo mục đích có hiệu quả đề điều chỉnh liều lượng vốn cho
vay, đảm bảo thu hồi vốn cho vay và lợi tức.
Đối tượng giám đốc của tín dụng là các hoạt động kinh
tế của người vay. Chủ thể giám đốc là người cho vay.
Trong nền kinh tế thị trường đi vay có thể đồng thời là người cho vay. Vì vậy, các tổ chức kinh doanh tín dụng vừa là chủ thể giám đốc, đồng thời là đối tượng giám đốc. Giám
đốc hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, một mat mang tinh chat quan ching rong rai; mat khác được thực hiện thông qua cơ quan chuyên môn của Nhà nước dựa trên các chuẩn mực pháp lý để giữ chữ “tín” trong quan hệ tín dụng, đám bảo nguyên tắc tự nguyện trong chức năng phân phối.
ở. Vai trò của tín dụng
Thực hiện tốt hai chức năng trên đây, vai trò của tín
dụng thể hiện ở các mặt sau đây:
- Là công cụ tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã
hội để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, tín dụng đóng vai trò chuyển hóa vốn nằm yên (vốn chết) thành vốn hoạt động (vốn sống), qua đó nâng cao hệ số sử dụng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội.
- Tín dụng phát triển tạo khả năng đầu tư xây dựng các công trình lớn, có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới thiết bị
công nghiệp, ứng dụng tiễn bộ khoa học - kỹ thuật để tăng
năng suất lao động, tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm. Qua đó góp phần vào nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng trưởng kinh tế.
- Tín dụng hỗ trợ vốn cho các chủ đầu tư chuyển hướng
kinh doanh từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành
có tỷ suất lợi nhuận cao. Qua đó, tín đụng đóng vai trò là trợ thủ của cạnh tranh giữa các ngành và trong nội bộ
ngành, góp phần hình thành cơ cầu kinh tế quốc dân hợp lý.
- Tín dụng tạo điều kiện phát triển sự giao lưu giữa các
chủ thể trong nền kinh tế, giao lưu vốn giữa nước ngoài và
trong nước. Qua đó, tạo lập các quan hệ kinh tế theo yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất.
ở. Các hình thức và tổ chức tín đụng
Đối tượng của tín dụng là vốn, tồn tại đưới ba hình thái:
vốn tiền tệ, vốn hàng hóa, vốn trong tài sản cho thuê. Căn
cứ vào phương thức thực hiện các quyết định tín dụng theo đối tượng, tín dụng có các hình thức chủ yếu sau đây:
- Hình thúc tín dụng tiền tệ
Tín dụng tiền tệ được thực hiện thông qua các tổ chức gồm: tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng, tín dụng tập thể.
Tín dụng nhà nước là quan hệ vay mượn và hoàn trả giữa nhà nước với các tổ chức vả dân cư trong nước, giữa
nhà nước với chính phủ các nước và các tổ chức tài chính
quốc tế. Tín dụng nhà nước do các tổ chức nhà nước thực hiện như kho bạc nhà nước, ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại quốc doanh, các ngân hàng thực hiện
chính sách kinh tế - xã hội không vì mục đích lợi nhuận.
Chủ trương của Nhà nước ta là: “Đầu tư vốn và các nguồn
lực khác để phát triển các tổ chức tín dụng nhà nước, tạo
„su kiện cho các tổ chức này giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trên thị trường tiền tệ”!,
Tín dụng ngân hàng là hình thức thực hiện các quan hệ tín dụng thông qua vai trò trung gian của các ngân hàng.
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào mục đích hoạt động có tín dụng ngân hàng thương mại; tín dụng ngân hàng thực hiện chính sách xã hội. Phân chia theo thời hạn huy động và cho vay, có tín dụng dài hạn, trung ban, ngắn hạn. Phân chía theo ngành kinh tế, có tín dụng ngân . hàng công thương nghiệp, nông nghiệp, ngoại thương...
Trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tín dụng
ngân bàng là hình thức chủ yếu huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước và ngoài nước đáp ứng nhụ cầu đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội.
Tín dụng tập thể là hình thức tự nguyện góp vốn của các thành viên để cho nhau vay, hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh tín dụng.
Tin dụng tập thể được thực hiện thông qua các tổ chức tín
dụng hợp tác. “Tổ chức tín dụng hợp tác là tô chức kinh doanh
tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương
! Khoản 2 - Điều 4 - Luật Các tổ chức tín dụng.
trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tổ chức
tín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân
dân, hợp tác xã tin dụng và các hình thức khác”'.
Trong điều kiện tín dụng ngân hàng chưa trở thành phố biến ở nông thôn, tín dụng tập thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế hộ gia đình, thúc đây quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Để phát huy vai trò của tín dụng tập thể, việc thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng hợp tác phải tuân thủ luật pháp, có sự giám sát của các thành viên tham gia va sự kiểm soát của Nhà nước.
- Hình thức tín dụng hàng hóa
Tín dụng hàng hóa là quan hệ mua, bán chịu hàng hóa đến kỳ hạn mới thanh toán giá trị hàng hóa và lợi tức. Tín dụng vốn hàng hóa gọi là tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại giữa các nhà kinh doanh được thực hiện thông
qua các hối phiếu hay kỳ phiếu thương mại. Ngày nay, tín
dụng thương mại giữa các nhà kinh doanh và người tiêu
dùng khá phổ biến ở các nước kinh tế thị trường, dưới hình thức bán chịu trả góp, tín dụng thương mại là hình thức phổ
biến trong quan hệ buôn bán quốc tế.
Tín dụng thương mại có vai trò quan trọng trong lưu thông bảng hóa, đám bảo lợi ích của người sản xuất và
! Khoản 5 - Điều 20 - Luật Các tổ chức tín đụng.
người tiêu dùng, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên
tục.
Ở nước ta, trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tín đụng thương mại bị nghiêm cắm. Chuyến sang cơ chế mới, tín dụng thương mại là tất yếu khách quan. Vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Thương phiếu làm cơ sở pháp lý cho việc phát hành hối phiếu thương mại để quản lý hình thức tín dụng này, khắc phục tình trạng nợ nần dây dưa chồng chất trong nên kinh tế.
- Hình thức tít dụng tài sản
Tín dụng tài sản được thực hiện thông qua hình thức cho thuê tài chính. Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trưng hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tô chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục
thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp
đồng thuê.
3. Ngân hàng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
a. Ngan hang va tic dụng của nó trong nên kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Ngân hàng _
Ngân hàng xuất hiện đầu tiên trong lịch sử là ngân hàng
thương mại. Ngân hàng ra đời khi những cơ sở làm công việc giữ hộ tiền, đổi tiền để thu lệ phí chuyển sang hoạt động huy động tiền để cho vay lấy lãi và thanh toán hộ
khách hàng để thu dịch vụ. Như vậy, ngân hàng là những xí
nghiệp kính doanh tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ huy
động, cho vay vốn và thanh toán. Sự ra đời và phát triển của các ngân hàng thương mại là yêu cầu khách quan của sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Do vị trí, vai trò
quan trọng của ngân hàng thương mại ngày càng tăng nên nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và quản lý các hoạt động kinh doanh tiền tệ, từ đó ra đời ngân hàng nhà nước hay ngân hàng trung ương.
Ở nước ta, trong cơ chế cũ cả nước chỉ có một ngân hàng duy nhất là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chỉ
nhánh ở các tỉnh và chi diém ở các huyện, vừa thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, vừa trực tiếp kinh doanh tiền tệ.
Chuyển sang cơ chế mới, hệ thống ngân hàng ở nước ta
được tô chức lại thành hai cấp hay hai phân hệ. Phân hệ
thực hiện chức năng quản lý nhà nước là ngân hàng nhà nước và phân hệ trực tiếp kinh doanh tiền tệ là các ngân hàng thương mại hoạt động theo Luật Các tô chức tín dụng.
- Vai trò, tác dụng của ngân hàng
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua phát
triển nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng có vai trò hết
sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Các ngân hàng thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ phát huy tác dụng trên những mặt sau đây:
+ Ôn định sức mua của đồng tiền, làm cho đồng tiền thực sự là phương tiện tổ chức sản xuất lưu thông hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng cá nhân xã hội,
nâng cao mức độ tín nhiệm của đồng tiền, làm cho đồng tiền quốc gia trở thành đồng tiền chuyên đối.
+ Thông qua việc phát hành tiền tệ, chủ động cung ứng khối lượng tiền tệ cho nền kinh tế mà điều tiết nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
+ Các ngân hàng thương mại là tô chức chủ yếu, là lực lượng chủ lực của việc thực thi các quan hệ tín dụng, biến vai trò khách quan của tín dụng trở thành hiện thực trong nền kinh tế quốc dân, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế, góp phần quan trọng vào việc hình thành cơ cấu kinh tế quốc dân hợp lý và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Là những trung tâm thanh toán, các ngân hàng thương mại tác động mạnh đến việc tiết kiệm chi phí lưu thông, tạo điều kiện thuận lợi để đây nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa.
+ Các ngân hàng thực hiện chính sách như ngân hàng phục vụ người nghẻo là công cụ thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, có tác dụng hạn chế phân hóa xã hội trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Để ngân hàng phát huy đầy đú tác dụng tích cực của nó
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trước hết cần nhận
thức đúng đắn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại.
b. Ngân hàng Nhà nước
- VỊ trí, chức năng của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền tệ, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tô chức tín đụng.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước
Một là, nhiệm vụ, quyền hạn trong thực hiện chức năng
quản lý nhà nước: -
+ Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
+ Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội phê
chuẩn. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ