Nhận thức của khách thể

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 46 - 51)

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ

2.1. Nhận thức về địa vị xã hội của kỹ nữ

2.1.1. Nhận thức của khách thể

Kỹ nữ Trung Quốc không chỉ bắt nguồn sớm nhất từ nô lệ mà nhìn tổng thể, về sau họ vẫn là nô lệ của toàn thể nam giới. Bất luận là cung kỹ, gia kỹ hay doanh kỹ, tư kỹ… thì cũng đều nảy sinh và tồn tại thích ứng với nhu cầu của nam giới. Địa vị làm người, quyền lợi và danh dự của họ đều đã bị xã hội nam quyền tước đoạt.

Họ chỉ được xem là một loại công cụ mua vui, một loại hàng hóa hay đồ trang sức, xa xỉ phẩm cao cấp lưu thông trong thế giới nam quyền, mặc cho bất cứ người đàn ông nào mua bán, chi phối hay sử dụng. Nam giới chính là thượng đế và chủ nhân của họ, toàn bộ ý nghĩa cuộc đời kỹ nữ chỉ xoay quanh việc phục vụ những thượng đế hay người chủ này.

Nhưng dù bị nam giới áp bức, bóc lột đến thế nào thì sau cùng những người kỹ nữ vẫn còn một thứ quý giá thuộc về mình, vĩnh viễn không bị mất đi. Đó chính là “giới tính” với những chức năng và sức hấp dẫn làm nên tính nữ của họ. Điều này mãi mãi là một sự mê hoặc và lôi cuốn đối với nam giới. Vì vậy, với tư cách là cá thể, kỹ nữ cũng là đối tượng để đàn ông theo đuổi và thưởng thức, thậm chí là đối tượng mà thế giới nam quyền tranh đoạt. Nam giới có thể lợi dụng đặc quyền trong tay (đặc quyền chính trị hay đặc quyền kinh tế) để chiếm hữu kỹ nữ, hưởng thụ và thậm chí là làm nhục hay đánh đập họ, nhưng thông thường không sát hại hoặc khiến họ phải chết vì đói rét. Ngoài ra còn không ít nam giới vì danh dự và nhu cầu hưởng lạc của bản thân nên không thể không đãi ngộ hậu hĩnh với kỹ nữ từ việc ăn mặc cho đến phục sức. Chính tâm lý vừa áp bức vừa theo đuổi, vừa khinh khi vừa

yêu thích này của nam giới đã quyết định tính không thống nhất giữa địa vị xã hội và đãi ngộ trong cuộc sống của kỹ nữ.

Xét về địa vị xã hội, kỹ nữ thuộc loại “dân đen”21, thấp hơn cả bình dân và gần với nô lệ. Họ thường không có hộ tịch độc lập, phải chịu sự quản lý của cung đình, quan phủ, doanh trại hay sát nhập hộ tịch với chủ. Họ cũng giống như nô lệ, ngoài rất ít người có thể được trở lại làm dân lành (như cung nữ được thả ra khỏi cung), thông thường đều không có tự do thân thể. Tuy nhiên, dù không ít kỹ nữ xuất thân là nô lệ, hay có những người bị phạt làm kỹ nữ thì đãi ngộ về chính trị và địa vị xã hội của họ trên thực tế vẫn cao hơn nô lệ. Chẳng hạn, để đề phòng nô lệ bỏ trốn, chủ nô lệ thường cho xăm mình hoặc thích chữ vào mặt nô lệ. Nhưng kỹ nữ thì không phải chịu hình phạt này. Nô lệ thường bị bắt làm những công việc lao động nặng nhọc, không có quyền được hưởng giáo dục. Kỹ nữ thì ngược lại, vừa không phải làm những công việc dùng đến thể lực mà còn có thể nhận được sự giáo dục văn hóa hay huấn luyện nghệ thuật nhất định. Nhắc đến mặt giáo dục thì dù là phụ nữ nhà lành cũng khó lòng theo kịp, họa chăng chỉ có phụ nữ con nhà quý tộc mới có thể đem ra so sánh với họ. Nếu chỉ xét tiêu chí tài nghệ thì quả thực có thể gọi một bộ phận kỹ nữ là quý tộc tinh thần của nữ giới Trung Quốc. Do đó, địa vị xã hội của kỹ nữ tuy bị xem thường, nhưng cũng chỉ có thể nói là gần với nô lệ.

Xét về đãi ngộ trong cuộc sống của kỹ nữ, thì đối tượng có cuộc sống xa hoa nhất đầu tiên phải kể đến cung kỹ. Không nhắc đến cung điện nơi họ sinh sống nguy nga tráng lệ như thế nào, mà chỉ nói tới vấn đề ăn uống và phục sức thì không chỉ nô lệ, dù là con gái nhà lành cũng khó lòng sánh kịp. Suốt các triều đại Trung Quốc, các nữ nhạc, cung nữ, vũ nữ… luôn được điểm phấn tô son, phục sức là lượt không thiếu thứ gì. Trong khi đó, nhiều người dân thường hàng ngày vẫn phải chịu cảnh đói rét. Gia kỹ thường được nuôi dưỡng trong những gia đình giàu có, cho nên cuộc sống của họ cũng thuộc vào hàng sung sướng phú quý. Đối với những kỹ nữ được kinh doanh (như doanh kỹ, quan kỹ hay tư kỹ, thị kỹ), thu nhập hành nghề của

21贱民: Tiện dân, tầng lớp hạ lưu

họ nhất định là cao hơn những cô gái làm công việc lao động phổ thông. Dù rằng phần lớn số tiền này phải nộp lại cho quan phủ, quân đội hay chủ kỹ viện nhưng những người quản lý ở đó vì muốn thu hút đông đảo khách làng chơi nên không thể không chu cấp cho họ đồ ăn thức uống ngon lành và các phục sức lộng lẫy. Như vậy, nam giới đã rất khéo léo khi áp dụng cả biện pháp cứng rắn (quyền lực chính trị) và mềm dẻo (đãi ngộ kinh tế) để cuối cùng đặt người kỹ nữ vào vị trí: có thân phận gần với nô lệ nhưng được đãi ngộ về vật chất gần (hoặc ngang bằng) quý tộc.

Trong số kỹ nữ thì địa vị xã hội và đãi ngộ về chính trị của cung kỹ vẫn mang một số nét đặc thù, đặc biệt là từ sau đời Hán, có một bộ phận cung kỹ được tuyển chọn từ con gái quý tộc và bình dân. Trong mắt của người Trung Quốc xưa, kỹ nữ được chọn vào cung để hầu hạ hoàng đế vốn mang một ý nghĩa “thần thánh”, không thể có thái độ kỳ thị hay “khinh thường”. Một khi nhận được sự sủng ái của vua, họ có thể được phong làm phi tần hay thậm chí là hoàng hậu. Nhưng rất ít người có được may mắn như vậy, hơn nữa sau khi được phong hiệu thì họ không còn là cung kỹ nữa mà đã trở thành quý tộc. Chẳng hạn như mẹ của Tần Thủy Hoàng vốn là một kỹ nữ nổi tiếng ở Hàm Đan (Hà Bắc), Lý Phu nhân của Hán Vũ Đế cũng xuất thân từ một ca kỹ. Còn hàng ngàn hàng vạn cung kỹ khác quanh năm bị nhốt mình nơi thẩm cung, không có tự do thân thể và phải sống với trạng thái không bình thường về tâm sinh lý thì vẫn chỉ là một đám nữ nô lệ xinh đẹp trong mắt của vua chúa. Các ông hoàng không những có thể tùy ý bỡn cợt, làm nhục mà còn có thể ban thưởng họ cho những công thần, người thân hoặc thả ra khỏi cung và thậm chí là giết chết họ. Còn chưa kể đến những cung kỹ vì trao thân hiến nghệ cho vua mà phải chịu không ít tủi nhục và bị bức hại. Qua đó có thể thấy, tuy cung kỹ không bị xem là “dân đen”, nhưng địa vị của đa số cung kỹ phải chịu nhốt mình trong cung, không có tự do thân thể thì thật sự vẫn gần với nô lệ.

So với những nhóm kỹ nữ còn lại, gia kỹ nhận được đãi ngộ cuộc sống có phần tốt hơn và sự thỏa mãn vừa phải nhu cầu sinh lý. Nhưng nếu xét ở góc độ nhân quyền, thì số mệnh của họ cũng đáng thương và thậm chí còn khổ cực hơn hết thảy.

Trong mối quan hệ với nam giới, họ chẳng qua cũng chỉ là công cụ mua vui và nô lệ

tình dục. Tuy nhiên, với tư cách là công cụ mua vui hay nô lệ tình dục của số đông thì doanh kỹ, quan kỹ, tư kỹ và thị kỹ được đối diện xã hội nam giới với dáng vẻ phóng khoáng, rất ít khi chịu sự bó buộc của những đạo đức luân lí phong kiến. Còn gia kỹ, được xem là nô lệ tình dục của tư nhân với phương thức khép kín thì phải chịu sự trói buộc trong phạm vi gia đình, tuân theo đức hạnh của người phụ nữ, giữ gìn trinh tiết. Một khi bị phát hiện gặp gỡ người khác bên ngoài, họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Số mệnh và kết cục của gia kỹ như thế nào thường được quyết định bởi sự yêu ghét nhất thời của chủ. Cũng vì thế mà cảnh ngộ của họ nhiều khi còn thê thảm hơn những kỹ nữ khác. Chẳng hạn, quan kỹ hay thị kỹ bị người ta vô cớ đánh chết, còn có quan phủ truy cứu trị tội. Còn gia kỹ nếu bị chủ tùy ý ngược đãi thậm chí là đánh chết cũng không có ai can thiệp vào. Không chỉ thế, họ còn có thể bị chủ đuổi hoặc bán đi bất cứ lúc nào mà không cần phải có sự cho phép của bất cứ ai. Điều này thường không ngoài hai nguyên nhân: Một là vì họ đã lớn tuổi, nhan sắc tàn phai, tài nghệ cũng không giỏi hoặc tính tình không tốt, không hợp ý chủ;

Hai là do người chủ đã già yếu bệnh tật, không còn tinh thần thể lực và tài lực để thưởng thức nhiều gia kỹ. Đôi lúc, gia kỹ còn trở thành đối tượng tranh đoạt, vật hy sinh hay làm món quà tặng, vật đổi chác của những người có quyền thế trong xã hội. Như trường hợp Tào Chương của nước Ngụy sẵn sàng dùng gia kỹ để đổi lấy một con ngựa tốt. Có thể thấy rằng số mệnh đáng buồn của những kỹ nữ này không nằm ở đãi ngộ cuộc sống tốt hay xấu mà là ở hành vi xem họ như một món quà để biếu tặng. Chính điều này đã chà đạp đến nhân cách của người kỹ nữ.

Sự khinh khi và áp bức của xã hội nam quyền đối với kỹ nữ không chỉ biểu hiện hình thức với những quy định pháp luật hay dư luận đạo đức mà còn được trực tiếp thể hiện, thi hành thông qua khách làng chơi, quan phủ và những ông bà chủ kỹ viện.

Mối quan hệ giữa kỹ nữ và khách làng chơi là mối quan hệ cộng sinh lẫn nhau. Dù rằng trong lịch sử có không ít khách làng chơi nảy sinh tình yêu thực sự với kỹ nữ, nhưng đa số họ thường có tâm lý hưởng lạc. Họ dùng hai loại công cụ là

“quyền” và “tiền” để sai khiến, bỡn cợt kỹ nữ. Những người càng có quyền lực về

tài chính và thế lực về chính trị thì càng dễ dàng nô dịch kỹ nữ. Họ không những có thể tùy ý chi phối hoạt động tình dục của kỹ nữ (bao gồm tự mình chiếm hữu và sai khiến kỹ nữ phục vụ tình dục cho người khác) mà còn có thể nắm giữ vận mệnh của người kỹ nữ. Vì thế, quan hệ giữa những người khách làng chơi này và kỹ nữ không chỉ đơn thuần là quan hệ mua bán mà còn là quan hệ giữa thống trị và bị thống trị, nô dịch và bị nô dịch.

Nói đến quan hệ giữa quan phủ và kỹ nữ, thì đây là một loại quan hệ giữa giai cấp thống trị và bị thống trị. Sự áp bức và khinh khi kỹ nữ của chế độ phong kiến được thể hiện qua chế độ nhạc tịch kéo dài hơn 1000 năm từ đời nhà Tùy cho đến thời Uông Chính nhà Thanh. Trong đời sống xã hội, nam nữ già trẻ thuộc nhạc tịch đều phải chịu sự khinh khi xem thường. Họ bị xem là tầng lớp tiện dân, địa vị gần với nô tỳ và không có hộ khẩu độc lập. Để tiện việc quản lý và phục vụ, một phần hộ tịch của họ đăng ký tại trung ương, thuộc thái thường hoặc giáo phường;

một bộ phận khác đăng ký tại địa phương, thuộc quan phủ các nơi hoặc doanh trại.

Tự do nhân thân của họ phải chịu sự bó buộc của pháp luật đặc thù. Quan kỹ hoặc doanh kỹ muốn lấy chồng đều phải qua đăng kí hoàn lương và phải được sự phê chuẩn hành chính của quan tướng cấp trên. Vào thời Tống Nguyên, khi pháp luật quy định kỹ nữ không được tư thông với quan phủ, cuộc đời của kỹ nữ phải chịu hai tầng áp bức. Một mặt, để tránh bị tội, họ không thể không làm tốt công việc ứng quan thân, hầu hạ quan phủ chu đáo khi có lệnh gọi. Đồng thời, vì sinh kế, họ không thể không lợi dụng thời gian nhàn rỗi để phục vụ bán nghệ thậm chí là bán thân cho các tầng lớp nhân sĩ khác trong xã hội ngoài quan phủ. Mặt khác, tuy là cấm đoán nhưng vẫn có trường hợp quan phủ tư thông với quan kỹ. Một khi bị phát hiện thì kỹ nữ là người bị đánh đập tra khảo đầu tiên, và cho dù người kỹ nữ ấy có tự mình đi tố cáo thì cũng khó may mắn thoát tội. Thậm chí, có những kỹ nữ còn trở thành nạn nhân vì sự tranh giành của các quan lại.

Đối với những kỹ nữ do các chủ kỹ viện trực tiếp kinh doanh, sự áp bức của quan phủ biểu hiện ở hai mặt, một là sự khinh khi về chính trị và hai là thu thuế về kinh tế (trường hợp thị kỹ). Nhu cầu ăn mặc của kỹ nữ và nơi diễn ra bán thân bán

nghệ đều do các ông bà chủ kỹ viện cung cấp, vì thế toàn bộ thu nhập của họ đều bị những người này chiếm hữu, chỉ có số tiền mà khách làng chơi lén cho họ mới thuộc về của riêng. Khi vào kỹ viện, thân thể của kỹ nữ đã được quy thành tiền bán cho chủ. Do đó kỹ nữ dù có cơ hội hoàn lương, cũng trước tiên phải trả cho chủ một món tiền chuộc thân. Ngoài ra, các ông bà chủ vì lợi nhuận nên không tiếc dùng trăm nghìn thủ đoạn để ép buộc kỹ nữ tiếp khách, đem nhiều tiền về cho họ. Họ có thể ngược đãi kỹ nữ bất cứ khi nào họ muốn. Kỹ nữ tiếp khách ít, không kiếm được tiền, chiêu đãi khách không chu đáo, làm trái quy định kỹ viện hay không làm vừa lòng chủ… đều bị đánh đập tàn nhẫn. Không chỉ hành hạ thân xác, các ông bà chủ kỹ viện còn thường xuyên giày vò kỹ nữ về mặt sinh lý. Họ không cho phép kỹ nữ nghỉ ngơi ngay cả trong kỳ kinh nguyệt và tìm đủ cách làm cho kỹ nữ tắt kinh để không ảnh hưởng đến tâm tình của khách làng chơi. Chẳng hạn, họ ép kỹ nữ dùng thật nhiều dấm chua, có thể là uống dạng cô đặc hoặc xông hơi. Phương pháp này khiến cho kỹ nữ thường bị bệnh về đường huyết, đến kỳ kinh nhưng không thấy kinh nguyệt. Thời gian càng kéo dài thì khả năng sinh đẻ của kỹ nữ cũng tự nhiên mất hẳn và tự động biến thành cỗ máy kiếm tiền liên tục cho chủ. Qua đó có thể thấy, quan hệ giữa các ông bà chủ kỹ viện và kỹ nữ trên thực tế là quan hệ ràng buộc thân thể, đồng thời cũng là quan hệ giữa bóc lột và bị bóc lột.

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 46 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(161 trang)