CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ
2.1. Nhận thức về địa vị xã hội của kỹ nữ
2.1.2. Nhận thức của chủ thể
Vì bị xếp vào hàng “dân đen” nên kỹ nữ bị xã hội khinh khi, coi thường.
Trước những đánh giá đó, bản thân người kỹ nữ cũng có những suy nghĩ về đạo đức dư luận hay thân phận của mình.
Trước hết, xã hội khinh khi kỹ nữ vì bản thân họ không giữ được trinh tiết (nhất là đối với sắc kỹ). Quan niệm trinh tiết của Trung Quốc cổ đại có thể nói là chuyên thiết lập cho phụ nữ, đặc biệt là sau khi lễ giáo phong kiến được lý học Trình Chu củng cố thêm, trinh tiết trở nên quan trọng như mạng sống của người phụ nữ. Người con gái một khi mất đi trinh tiết cũng đồng nghĩa với việc làm đứt đoạn mạng sống của mình. Không ít kỹ nữ xuất thân từ những gia đình lương dân, từ nhỏ
đều đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của quan niệm trinh tiết, tuy chưa đạt đến mức “‘ngã tử sự tiểu, thất tiết sự đại’ (饿死事小,失节事大đói chết là chuyện nhỏ, mất trinh tiết mới là chuyện lớn) như Tống Nho đề xướng nhưng cũng hiểu được điều gọi là
‘cầu sinh đệ nhất, thủ trinh đệ nhị’ (求生第一,守贞第二mưu sinh thứ nhất, giữ trinh tiết thứ hai) [Võ Châu 2005: 238]. Vì thế ở họ đã xuất hiện tâm lý mâu thuẫn, một mặt là đau khổ, tự khinh rẻ bản thân vì mất đi trinh tiết, mặt khác lại vì mưu sinh mà không thể không đón rước, hầu hạ khách làng chơi. Đương nhiên vẫn có những trường hợp do áp bức chính trị nên buộc phải làm kỹ nữ (như doanh kỹ, quan kỹ). Khi ấy, sự đau khổ trong nội tâm của những kỹ nữ này tuy cũng có liên quan đến việc mất đi trinh tiết, nhưng chủ yếu là vì số mệnh cuộc đời phải chịu áp bức, khinh khi.
Tuy phải dấn thân vào chốn kỹ viện nhơ nhớp nhưng những kỹ nữ thực sự đắm mình nơi ấy không nhiều. Chính bởi từng ít nhiều chịu ảnh hưởng của quan niệm trinh tiết nên sau khi lưu lạc chốn phong trần họ vẫn thường cảm thấy đau khổ vì đã đánh mất nó. Sâu thẳm trong nội tâm của họ vẫn hướng đến cuộc sống vợ chồng hòa thuận, một lòng trung trinh của những cô gái nhà lành. Vì thế, họ cảm thấy sỉ nhục và chán ngán cuộc sống ngày ngày phải bán tiếng cười nuôi thân ở lầu xanh. Tuy nhiên họ không hoàn toàn suy sụp tinh thần và tuyệt vọng. Đa số kỹ nữ đều có lý tưởng và dự định riêng, hy vọng có thể thông qua nỗ lực của bản thân để tự giải thoát, từ đó giành lại chút tiết hạnh cho mình. Đương nhiên, tiền đề cho những lý tưởng và hy vọng này trước hết là nhờ tuổi trẻ và tài sắc của họ. Đó vừa là vốn liếng để họ có thể hấp dẫn khách làng chơi, kiếm được nhiều tiền, vừa là điều kiện để họ có thể giành được tình yêu, tìm người chồng tốt. Những kỹ nữ do tư nhân kinh doanh đã chọn giải thoát bằng cách tạm thỏa hiệp với cuộc sống ở lầu xanh nhưng không ngừng tích lũy tiền chuộc thân, tìm một người chồng tốt để làm lại cuộc đời. Trong số cung kỹ và quan kỹ cũng có không ít người nuôi khát vọng hoàn lương lấy chồng. Tuy nhiên, lý tưởng này có thể được thực hiện hay không còn tùy thuộc vào sự chấp thuận của hoàng đế hay trưởng quan địa phương. Vì thế ý thức tự giải thoát của cung kỹ và quan kỹ thường không mạnh bằng tư kỹ hay thị
kỹ. Trường hợp thị kỹ, tuy cũng lệ thuộc nhạc tịch nhưng quan phủ chỉ thông qua việc thu thuế gián tiếp kiểm soát, còn việc kinh doanh cụ thể thì lại do tú bà phụ trách quản lý. Kỹ nữ muốn hoàn lương chỉ cần được tú bà đồng ý và nộp tiền thì đã có thể được miễn hộ tịch, xóa bỏ sự khinh miệt. Vì thế khả năng tự giải thoát của thị kỹ tương đối cao.
Có những người tuy làm kỹ nữ nhưng họ không cam chịu bị khinh khi và vẫn duy trì trạng thái tâm lý của những phụ nữ bình thường. Vì thế trong thế giới nội tâm của họ đã tồn tại khuynh hướng tâm lý kiểu hai mặt vô cùng phức tạp. Một mặt, những kỹ nữ luôn cười nói vui vẻ để đáp ứng yêu cầu công việc, trong đó không loại trừ có những niềm vui xuất phát từ tận đáy lòng (chẳng hạn khi vẻ xinh đẹp, tài hoa hay sự thông minh khéo léo của kỹ nữ được khách làng chơi ca ngợi, hoặc khi nhận được những lời bày tỏ chân thành của khách làng chơi…). Mặt khác khi sống cô đơn, trải lòng cùng tri kỷ về số mệnh của mình hay khi khách làng chơi mượn thơ từ khuấy động đến nỗi đau âm thầm trong lòng, họ không khỏi buồn thương.
Những người kỹ nữ ấy không hoàn toàn vui sướng như vẻ bên ngoài mà tâm hồn luôn bị giằng xé bởi nỗi buồn và đau khổ.
Vì cuộc sống mưu sinh, kỹ nữ phải không ngừng kiếm tiền, tranh giành lợi lộc. Họ chẳng ngại ngần cười cợt, lả lơi với khách, thậm chí còn thề non hẹn biển nhưng trên thực tế lại rất ít đầu tư tình cảm. Chính vì thế, trong xã hội phổ biến tâm lý cho rằng kỹ nữ vô tình, kỹ nữ chỉ là những kẻ ham mê tiền tài, tham lam vật chất.
Sự thật thì đó chỉ là tâm lý bề ngoài của kỹ nữ. Trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn cất giấu một tấm chân tình giống như những phụ nữ bình thường. Họ vẫn quý mến tài hoa của người quân tử, sẵn sàng vì ái mộ và thương cảm người tài mà hết lòng giúp đỡ, vẫn mưu cầu tri kỷ và nguyện một lòng sống chết theo người đó…
Bên cạnh những kỹ nữ muốn xóa bỏ sự khinh khi của xã hội, hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ trong cuộc sống thì vẫn có những kỹ nữ vì theo đuổi vinh hoa phú quý mà chấp nhận cảnh sống trụy lạc, mặc sức tận hưởng, chẳng cần phải lo nghĩ đến tương lai. Những kỹ nữ ấy sống trong kỹ viện thường muốn chơi trội,
thích nghe những lời tán dương của khách làng chơi và cũng hy vọng có thể được văn nhân mặc khách đề từ tặng thơ. Trong số họ có những người bị bức bán vào kỹ viện, ban đầu cũng khóc lóc đau khổ, mặc cảm tự ti nhưng không lâu sau thì đã hoàn toàn sa đọa, thoải mái hành lạc, thậm chí là hình thành thói quen dâm đãng.
Họ chính là những đại diện tiêu biểu cho không ít tiêu cực xã hội do kỹ nữ mang lại.