CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ
2.2. Nhận thức về vai trò của kỹ nữ trong xã hội
Xã hội nam quyền đã sinh ra nhu cầu về sức hấp dẫn tình dục và chức năng tình dục cho kỹ nữ, từ đó quy định vai trò của họ là những phụ nữ quan hệ tình dục thuần túy, không phải là những phụ nữ vô tính22 kiểu thánh mẫu. Nhưng làm thế nào có thể khiến bản thân kỹ nữ cũng chấp nhận vai trò giới tính này? Những người đàn ông đã áp dụng hai biện pháp: Một là dùng biện pháp cứng rắn, bài xích kỹ nữ ra khỏi xã hội, hạ thấp thân phận của họ xuống dưới dân lành. Điều này sẽ khiến cho kỹ nữ mất đi hy vọng trở thành liệt nữ, tiết phụ hay hiền thê kiểu thánh mẫu.
Thứ hai là dùng biện pháp mềm dẻo, bao bọc cưng chiều kỹ nữ, dành cho họ sự đãi ngộ nồng hậu về cuộc sống hay kinh tế. Điều này khiến cho kỹ nữ có thể yên lòng hưởng thụ niềm vui và sự ấm no trước mắt, không trông chờ viễn vông vào đức hạnh hay danh dự của người phụ nữ mà họ vốn không có quyền giành được.
Nam giới đã ham mê kỹ nữ, mà không ít kỹ nữ cũng cam tâm tình nguyện phục vụ tình dục. Vậy trong hoạt động tình dục tự nguyện song phương này, mối quan hệ giữa kỹ nữ và nam giới diễn ra như thế nào? Hay vai trò của kỹ nữ chỉ thuần túy là nữ giới trong ý nghĩ của nam giới ra sao? Có lẽ, trong số chúng ta sẽ không ít người cho rằng hoạt động tình dục giữa kỹ nữ và nam giới là một loại giao dịch kinh tế, quan hệ giữa họ chỉ đơn thuần là quan hệ mua bán. Nhưng trên thực tế, sự việc không giản đơn như vậy. Trong số họ, ngoài nhóm người có quan hệ mua bán thực sự, vẫn có những mối quan hệ mang đậm nhân tố tình cảm. Đây không chỉ là tình cảm chủ tớ (giữa gia kỹ và chủ) hay tình cảm quân thần (giữa cung kỹ và vua chúa) mà đáng chú ý hơn là, giữa họ còn có thể nảy sinh sự đam mê. Để làm rõ vấn
22 Người không có ham muốn về tình dục.
đề, trước hết chúng tôi xin được điểm qua về xu thế hành vi tình dục và tâm lý tình dục của nam giới thời cổ.
Từ xưa, trong xã hội Trung Quốc đã lưu hành những câu nói dí dỏm rằng:
“Vợ không bằng thiếp, thiếp không bằng kỹ, kỹ không bằng trộm” (妻不如妾,妾 不如妓,妓不如偷) [Võ Châu 2005: 67] hay “vợ không bằng thiếp, thiếp không bằng tỳ, tỳ không bằng kỹ” (妻不如妾、妾不如婢、婢不如妓)[Khổng Khánh Đông 2008: 92]. “Trộm” tức là hành vi thông dâm. Nam giới thời cổ đại dù rất muốn thực hiện điều này, nhưng bị hạn chế vì lễ giáo không cho phép. Đàn ông lấy vợ đương nhiên là chuyện chính đáng, nhưng việc chọn vợ thông thường không xuất phát từ ý nguyện của họ mà là do chủ ý của cha mẹ và người dẫn mối. Hôn nhân được xem là chuyện lớn của toàn bộ gia tộc. Điều mà hôn nhân cân nhắc trước hết không phải là tình cảm của đôi bên nam nữ, mà là so sánh tài sản, quyền thế hay dòng dõi… Vì thế, gia đình thường là kết quả của lợi ích tập đoàn. Điều này tất yếu dẫn đến tình cảm vợ chồng không được xây dựng trên cơ sở sự yêu mến chủ quan mà lại thuộc về nghĩa vụ khách quan. Vợ chồng phải miễn cưỡng chịu đựng nhau và cũng không dễ dàng ly hôn vì những yếu tố lợi hại của mối quan hệ này mang lại.
Hơn nữa, người xưa rất xem trọng sự ổn định của gia đình, bởi ổn định gia đình là nền tảng để ổn định xã hội, “tề gia” mới có thể “trị quốc”, “bình thiên hạ”. Do đó nạp thiếp có thể là giải pháp ưa chuộng của người trong cuộc, nên mới gọi là “vợ không bằng thiếp”. Tuy nhiên dù là lấy vợ hay nạp thiếp thì mục đích trước tiên đều là vì sinh con đẻ cái. Đàn ông lấy vợ mà không có con thì đương nhiên phải nạp thiếp, nếu không sẽ mang tội bất hiếu. Còn việc nuôi dưỡng và chơi bời kỹ nữ thì lại hoàn toàn là ý nguyện của nam giới, đa phần không phải chịu sự hạn chế nào, có thể mặc sức làm theo ý mình.
Những người có nhu cầu tình cảm cao thường không thể đạt được sự thỏa mãn trong gia đình. Mà không phải ai cũng có điều kiện nuôi dưỡng kỹ nữ. Vì thế họ sẽ tìm đến các kỹ nữ thanh lâu. Ở đó, hai bên nam nữ đều không phải gánh vác trách nhiệm của đạo đức luân lý, cũng không phải lo ngại về dòng dõi cao thấp hay
chịu sự ràng buộc của phẩm hạnh trinh tiết. So với quan hệ phục tùng theo hình thức chủ nô trong gia đình thì mối quan hệ với kỹ nữ thanh lâu khiến người ta cảm thấy tự do, bình đẳng hơn, có thể phát huy sức hấp dẫn và giá trị của bản thân, từ đó thể hiện màu sắc lãng mạn nhiều hơn. Dường như tất cả những khiếm khuyết về tình cảm nam nữ trong gia đình đều được bù đắp ở đây. Và khi trở về nhà, những người đàn ông ấy vẫn quay về với vai trò là người chồng, người cha, người con chuẩn mực. Họ vẫn là người chủ có quyền quát tháo đồng thời gánh vác tất cả nghĩa vụ trong gia đình. Từ đó có thể thấy, sự tồn tại của thanh lâu qua nhiều thế kỷ,
“không những không phá hoại kết cấu gia đình mà ngược lại còn thúc đẩy sự ổn định của gia đình, thúc đẩy sự ổn định của xã hội. Thanh lâu và gia đình không những không mâu thuẫn mà còn dung hợp thành hệ thống văn hóa tình dục hoàn chỉnh, bảo đảm sự phát triển vững chắc lâu dài của xã hội Trung Quốc cổ đại”
[Khổng Khánh Đông 2008: 151].
Như vậy, không những việc lấy vợ nạp thiếp không giống với chơi bời kỹ nữ, mà ngay cả yêu đương vụng trộm cũng không được tự do như qua lại với kỹ nữ.
Kỹ nữ đã trở thành đối tượng chủ yếu cho việc theo đuổi khoái lạc tình dục của một số đàn ông thời cổ phong kiến. Điều này chịu ảnh hưởng ít nhiều từ tâm lý của nam giới. Thứ nhất, xét về phương diện nữ giới thì kỹ nữ có sắc đẹp và tài hoa nghệ thuật mà nhiều thê thiếp của nam giới không thể sánh kịp, điều này sẽ góp phần tăng thêm màu sắc lãng mạn, thi vị trong hoạt động tình dục giữa họ và nam giới (khách làng chơi). Mặt khác, hầu hết thê thiếp của nam giới vì giữ cương thường đạo lý nên lúc nào cũng phải dè dặt, kiềm chế bản thân. Nếu họ biểu hiện giống như kỹ nữ thì lập tức bị xem là không tiết hạnh, là dâm đãng, bại hoại, thậm chí sẽ bị đuổi ra khỏi nhà. Vì thế, cho dù họ hứng thú hay có bản lĩnh tình dục như kỹ nữ thì cũng không dám để lộ ra. Những người vợ trong xã hội cổ đại chỉ biết thực hiện đúng vai trò của mình, còn những chuyện khác thì nhường cho kỹ nữ. Họ phải khoác lên mình vẻ đoan trang hiền thục, đặc biệt đối với những chuyện phòng the phải tỏ ra không thấy hứng thú, càng không nên là người khởi xướng. Như vậy mới là một người phụ nữ đúng đắn khuôn phép, được người khác tán thưởng và chứa
chấp trong gia đình. Trong khi đó, kỹ nữ không phải chịu sự ràng buộc ấy mà thoải mái xuất hiện trước mặt nam giới với tư cách là một người phụ nữ thuần túy. Vì thế, trong hoạt động tình dục, kỹ nữ dễ dàng giúp cho nam giới thăng hoa hơn thê thiếp của họ, và do đó trở thành đối tượng được say mê, yêu thích.
Trong phạm vi gia đình cổ đại, đàn ông có thể tùy ý chiếm hữu những người phụ nữ khác ngoài vợ để nhận làm thiếp, gia kỹ hoặc là tỳ nữ. Giữa thiếp và tỳ nữ có sự phân biệt rõ ràng. Thiếp là lương dân và thường thông qua quan hệ hôn nhân để bước vào một gia đình nào đó, còn tỳ nữ thì lại là đầy tớ, địa vị gần như nô lệ.
Trên nguyên tắc, tỳ nữ không có nghĩa vụ và quyền giao hợp với chủ, nhưng trong thực tế cuộc sống, không hiếm trường hợp gia chủ thông dâm với tỳ nữ. Thiếp cũng có thể xem là nô lệ của gia chủ, nhưng đối với tỳ nữ thì lại là chủ nhân. Tỳ nữ không những phải hầu hạ ông chủ mà còn phải hầu hạ các bà chủ. Còn về mối quan hệ giữa giữa gia kỹ và thiếp, gia kỹ và tỳ nữ thì trong thực tế rất khó phân biệt rõ ràng. Bởi có khi gia kỹ được tuyển chọn huấn luyện từ nô tỳ, và cũng có khi gia kỹ được chủ yêu thương nên nạp thành thiếp (nhất là khi gia kỹ sinh được con trai). Do đó chỉ có thể phân biệt tương đối gia kỹ với thiếp và tỳ nữ ở đặc trưng nữ nhạc trong gia đình. Trong phạm vi gia đình, những người thiếp hay tỳ nữ giỏi nghệ thuật, phục vụ thanh sắc cho gia chủ đều được gọi chung là gia kỹ.
Giống như tỳ nữ, gia kỹ được xem là tài sản tư hữu của chủ, có thể mua về nhà thì đương nhiên cũng có thể tùy ý bán hoặc tặng cho người khác. Tuy nhiên gia kỹ đã không cần phải làm những công việc lao động thể lực nặng nhọc như nô tỳ mà còn có thể nhận được đãi ngộ tốt trong cuộc sống. Vì thế giữa người chủ và gia kỹ vừa là quan hệ chủ tớ, vừa là quan hệ cấp dưỡng. Riêng về thiếp, tuy là địa vị cao hơn gia kỹ, nhưng cũng chỉ có thể tranh thủ tình cảm của chủ lúc còn trẻ trung, xinh đẹp. Trong khi đó, gia kỹ không những có tài sắc vẹn toàn mà việc bồi dưỡng văn hóa nghệ thuật cũng thường cao hơn thiếp hay nữ tỳ, cho nên họ mặc nhiên nhận được sự tán thưởng và sủng ái của gia chủ nhiều nhất. Mối quan hệ giữa chủ và gia kỹ được xem là cực kỳ hòa hợp và giàu tình cảm lãng mạn. Trong suy nghĩ của gia chủ, vai trò của thê thiếp là quản lý những việc trong gia đình, sinh con đẻ
cái, tỳ nữ thì chuyên hầu hạ việc ăn mặc đi lại của chủ, còn vai trò của gia kỹ thì chủ yếu là cung cấp giải trí văn hóa và hưởng thụ tinh thần. Gia kỹ có thể cùng chủ thưởng thức nghệ thuật, cùng ngâm thơ, giao lưu tư tưởng, bàn luận về cuộc đời, có thể cùng dạo chơi, tiếp rượu hay hầu hạ chốn phòng the… Chính vì thế, gia chủ mới có thể cùng gia kỹ nảy sinh tình cảm sâu sắc, kết hợp thăng hoa thể xác và tinh thần.
Bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tình dục cho nam giới, kỹ nữ cũng góp phần không nhỏ trong việc biểu diễn và truyền bá các loại hình nghệ thuật. Ở trong cung, chỉ trừ những lúc cúng tế không cần đến nữ nhạc, còn lại vào những dịp như hoàng đế đăng cơ và thay đổi niên hiệu, các ngày lễ long trọng của đất nước, lễ tiếp đón khách nước ngoài hay thủ lĩnh các dân tộc thiểu số, thậm chí là trong một số hoạt động tôn giáo... phần lớn đều phải triệu tập cung kỹ để cử hành các hoạt động diễn xuất với nội dung và quy mô khác nhau. Song song với hoạt động lễ nghi trong cung, vào các ngày lễ mừng long trọng, quan phủ địa phương hay các khu quân sự cũng thường triệu tập quan kỹ đến biểu diễn. Đôi khi, quan kỹ còn được tham gia hội diễn cùng cung kỹ. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc giao lưu và nâng cao trình độ nghệ thuật.
Từ thời Tống trở đi, cùng với sự xuất hiện của hàng loạt ngõa xá (một dạng kỹ viện phần lớn do quân đội hay quan lại địa phương kinh doanh), câu lan và ca quán, hoạt động diễn xuất của các kỹ nữ phố phường mới ngày một thịnh vượng và gây ảnh hưởng ngày càng lớn. Những hoạt động biểu diễn này không chỉ thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của thị dân, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và lòng đam mê nghệ thuật của họ mà còn khiến cho các hình thức nghệ thuật dân gian như kịch ca vũ, kịch hoạt kê23, nói chuyện sách, hát dối, điệu hát kể24... được truyền bá rộng rãi và không ngừng phát triển. Đặc biệt là nhờ những hoạt động biểu diễn của kỹ nữ phố phường, hý khúc từ chỗ manh nha đã trở nên thuần thục, tạo nên hai thời đại hoàng kim trong lịch sử hý khúc Trung Quốc là tạp kịch đời Nguyên và truyền kỳ
23滑稽戏: Một loại hình nghệ thuật “tướng thanh” của phương Bắc, thịnh hành ở Thượng Hải, Tô Châu và Hàng Châu
24诸宫调 : Hát theo nhiều làn điệu khác nhau, thịnh hành vào thời Tống, Kim, Nguyên
Minh Thanh25. Xét ở điểm này thì công lao của cung kỹ và quan kỹ không thể sánh bằng.
Ngoài biểu diễn trong nghi lễ, những kỹ nữ còn phục vụ ca múa trong các buổi yến tiệc. Đây vừa là hình thức thưởng thức nghệ thuật tao nhã mà xa hoa của các văn nhân sĩ đại phu và tầng lớp quý tộc, đồng thời cũng là một con đường giúp kỹ nữ truyền bá nghệ thuật. Khi hoàng đế dùng cơm hay mời tiệc công thần, hoàng tộc hoặc khách quý thường có lệ yêu cầu cung kỹ biểu diễn một vài tiết mục góp vui. Kỹ nữ giáo phường ngoài phục vụ yến tiệc trong cung còn được thuê đến nhà của quý tộc quan lại biểu diễn. Chẳng hạn, kỹ nữ giáo phường Trương Tây Nương thời Đường nổi tiếng nhờ nhan sắc xinh đẹp, giỏi tài ca múa nên thường được các gia đình quý tộc mời đến biểu diễn trong các bữa tiệc. Ở quan kỹ cũng rất phổ biến các hoạt động biểu diễn nghệ thuật hầu tiệc, bao gồm cả tiệc công và tư. Kỹ nữ phố phường phần lớn là biểu diễn hầu tiệc ở các gia đình tư nhân nhưng cũng có lúc được mời đến các buổi tiệc công. Bất luận là tiệc công hay tiệc tư, kỹ nữ cũng căn cứ vào sở thích của chủ hoặc khách để lựa chọn hình thức biểu diễn cho phù hợp, nhưng phổ biến nhất vẫn là ca múa. Nội dung của các ca khúc thường được trình bày theo lối thơ (đời Đường), từ (đời Tống) hay khúc (đời Nguyên). Qua đó có thể thấy, kỹ nữ đối với sự phát triển của văn học cũng có những cống hiến nhất định, chí ít là họ đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá rộng rãi Đường thi26, Tống từ27 và Nguyên khúc28. Không chỉ giỏi ca múa, nhiều kỹ nữ với văn tài xuất chúng, trên các lĩnh vực cầm kỳ thi họa đều thể hiện tài hoa tương đối cao. Cùng với sự phát triển của mối quan hệ gắn bó giữa văn nhân và kỹ nữ, văn học kỹ nữ Trung Quốc (bao gồm những tác phẩm của trí thức lấy đời sống kỹ nữ làm đề tài sáng tác và những tác phẩm do kỹ nữ sáng tác) sau một thời kỳ dài thai nghén đã chính thức ra đời. Một số kỹ nữ dày công trau dồi văn học như Tường Phong, Lục Châu thời Tây Tấn, Tô Tiểu Tiểu thời Nam Tề… chịu ảnh hưởng của văn nhân cũng bắt đầu
25 Loại hý khúc trường thiên, thịnh hành thời Minh Thanh.
26 Thơ Đường
27 Còn gọi là trường đoản cú, một thể loại văn vần.
28 Còn gọi là từ khúc, hình thức văn vần, ngôn ngữ linh hoạt gần với khẩu ngữ.
múa bút làm thơ. Đóng góp đáng kể nhất của họ là trong tập Toàn đường thi gồm hơn 49000 bài thì có đến 136 bài thơ do 21 người kỹ nữ sáng tác. Hay tập Tô Tiểu Tiểu ca còn đến hiện nay được xem là tập thơ ca do kỹ nữ sáng tác sớm nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Như vậy, kỹ nữ không chỉ là đối tượng đáp ứng nhu cầu thanh sắc cho nam giới mà còn thỏa mãn nhu cầu giải trí cho nhiều đối tượng khác trong xã hội. Cho nên, dẫu xã hội có khinh khi thì kỹ nữ vẫn được bảo bọc và tồn tại với những vai trò nhất định.