Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN QUAN SƠN VÀ DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN SƠN
1.4. Dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn
1.4.3. Đặc điểm văn hóa – xã hội
Văn hóa vật chất:
Làng bản: từ rất lâu đời, người Thái huyện Quan Sơn sống tách biệt với các dân tộc khác. Người Thái thường tập trung sống thành các làng bản dưới các chân đồi, các cánh đồng có dòng suối chảy qua hay những nơi có vị trí thông thoáng thuận lợi cho sinh hoạt, đi lại và sản xuất nông nghiệp như dọc theo hai con sông Luồng, sông Lò, các con suối,... Các làng bản thường có 30 đến 40 nhà. Tổ chức làng bản rất chặt chẽ, họ liên kết với nhau trong việc sở hữu đất đai, trong các công việc như: đám cưới, đám ma, trong lao động sản xuất họ thường kết thành nhóm, phường hội để giúp đỡ nhau khi các gia đình có việc.
Những công việc nhỏ sẽ có người đứng đầu nhóm, phường hội chỉ đạo;
còn những việc lớn trong bản sẽ do Trưởng bản lãnh đạo.
Nhà cửa: ngôi nhà truyền thống của đồng bào Thái là ngôi nhà sàn. Trước kia, họ làm nhà sàn với mục đích tránh thú dữ, còn ngày nay họ ở nhà sàn bởi nhà sàn rất mát và thông thoáng. Họ tận dụng các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như: tre, luồng, gỗ, nứa, lá,… để làm nhà. Việc lựa chọn gỗ làm nhà chủ yếu dựa vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình, nhưng thường là các loại gỗ tốt như: trò, lim, nghiến, táu,…được sử dụng làm khung nhà như: cột, kèo, rầm, xà,… “Nhà cửa của người Thái vừa trang nhã vừa chắc chắn. Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn họa tiết rất tinh xảo, nhà có 4 mái, được trang trí theo kiểu hình mai rùa, có “khau cút” (khau cút là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc để chắn gió)” [4, tr. 46].
Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là kỹ thuật thủ công, công việc này do một đội thợ và người trong bản giúp đỡ nhau dựng nhà. Việc xây dựng ngôi nhà đòi hởi rất nhiều thời gian và công sức. Ngôi nhà sàn của người Thái là một ngôi nhà tổng hợp được bố trí chặt chẽ, hợp lí và tận dụng một cách tối đa để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người.
Nhà sàn thường cao từ 8m đến 10m, ngôi nhà thường được chia thành các tầng sử dụng khác nhau: gầm nhà là nơi dùng để chứa dụng cụ sản xuất như: cày, bừa, cuốc, xẻng,… và là nơi nhốt gia cầm; trên mặt sàn là nơi dành cho người ở, nơi đặt bàn thờ, bếp, nơi bảo quản lương thực, thực phẩm và các đồ dùng sinh hoạt khác,… Nhìn vào ngôi nhà sàn có thể thấy rõ được phong tục, tập quán, nề nếp, trật tự của từng gia đình người Thái nơi đây. Trong nhà được chia thành nhiều gian khác nhau, trình tự sắp xếp các gian cũng được quy định rất chặt chẽ, nơi đặt bàn thờ, gian ngủ dành cho ông bà, cha mẹ và con cái,…
Ngày nay, do đời sống kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi , các nguyên liệu tự nhiên như: gỗ, tre, nứa,lá cọ,… ngày càng cạn kiệt, cùng với sự xuất hiện của nhiều vật liệu xây dựng mới như: gạch, xi măng, cát, tôn,… cùng với xu thế phát triển chung, hiện nay có một số người Thái ở huyện Quan Sơn đã chuyển sang làm nhà xây nhưng số lượng đó cũng chưa nhiều.
Trang phục: huyện Quan Sơn chủ yếu là người Thái đen, trang phục được phân biệt rất rõ trong từng quan hệ như: trang phục hàng ngày, trang phục trong lao động, trong sinh hoạt, trong lễ hội. Trang phục người Thái đen ở huyện Quan Sơn khác với người Thái đen ở các tỉnh phía Bắc. Trang phục thường nhật của phụ nữ Thái đen là áo khóm (xửa cong) mầu tối cổ tròn, chui đầu, cài cúc phía vai, khác với áo phụ nữ Thái trắng cài cúc bạc tạo hình bướm, ve, ong. Riêng cách búi tóc của người phụ nữ Thái trắng, Thái đen giống nhau, chưa chồng thì búi sau gáy, có chồng thì búi trên đỉnh đầu.
Trước đây, nguyên liệu làm trang phục là sợi lấy từ cây bông, thuốc nhuộm lấy từ nhiều lại lá cây khác nhau. Ngày nay, nguyên liệu dệt có thể mua sẵn, những khi cần thiết họ mới tự dệt cho mình những bộ trang phục truyền thống; những ngày bình thường họ không còn mặc trang phục truyền thống nữa mà thay vào đó họ mặc quẩn áo như người Kinh.
Trang phục gồm có: quần, áo (đối với nam giới); váy, áo, khăn piêu, dây thắt lưng và đồ trang sức (đối với nữ giới). Tùy vào từng đối tượng và chức năng sử dụng mà có nhiều kiểu khác nhau như: quần áo phụ nữ, nam giới, trẻ em, quần áo cưới, quần áo tang,… Đối với phụ nữ họ thường để tóc dài, đội khăn piêu. Áo của người phụ nữ là kiểu áo
khóm thân ngắn đến lưng, tay dài, cổ chui, có dây thắt ở cổ; váy thường có màu đen, chân váy và đầu váy được thêu dệt thành các hình thù của các con thú như: con voi, con ngựa, con nai,… Kết hợp với bộ váy áo sẽ là chiếc thắt lưng xanh và chiếc dây bạc đeo ở bên cạnh sườn làm tôn thêm vẻ nữ tính, duyên dáng, thanh lịch của các cô gái Thái. Quần áo nam giới thì đơn giản hơn, quần ống rộng, màu tối, áo tương tự áo của người Kinh, họ cắt tóc ngắn. Trong các đám tang, cả nam giới và nữ giới đều mặc đồ màu trắng, thiết kế đơn giản, không trang trí hoa văn, màu sắc. Còn trong các ngày lễ họ mặc những bộ trang phục mới, trang trí lộng lẫy và nhiều màu sắc sặc sỡ. Đồ trang sức như: vòng bạc, hoa tai, vòng tay, nhẫn,… bằng bạc phụ nữ và trẻ em hay đeo.
Ẩm thực: từ bao đời nay, người Thái ở huyện Quan Sơn sống gắn bó với nghề sản xuất nông nghiệp. Do vậy, lương thực thực phẩm chính của họ đều là các sản phẩm từ hoạt động sản suất, chăn nuôi, săn bắt hái lượm được. Các món ăn thức uống được chế biến phong phú, đa dạng.
Văn hóa tinh thần:
Quan hệ gia đình – dòng họ: các gia đình người Thái ở Quan Sơn chủ yếu là các gia đình nhỏ, phụ hệ gồm có: bố mẹ, con cái. Ngoài ra, còn nhiều gia đình ông bà vẫn ở chung với con cái. Ông bà thường ở chung với con trai, là con trai cả trong gia đình. Trong gia đình, người đàn ông, nhất là người con trai cả có vai trò rất quan trọng, là trụ cột trong gia đình, có vai trò quyết định các vấn đề của gia đình như: sản xuất, cưới xin, tang ma,…và có quyền thừa kế tài sản. Tuy nhiên, trong thời buổi xã hội phát triển như ngày nay thì những quyết định của người đàn ông cũng phải có sự bàn bạc và thống nhất của người phụ nữ; con gái trong nhà đi lấy chồng cũng được chia một phần tài sản
nhưng phần nhiều vẫn dành cho người con trai. Trong nhà, các thành viên trong gia đình có sự phân biệt chặt chẽ với nhau như: trong quan hệ giữa bố chồng, anh chồng với con dâu, em dâu,… Người Thái rất coi trọng những người trong cùng dòng họ, thân tộc, họ yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau trong mọi vấn đề như: lao động sản xuất, cưới xin, tang ma hay những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày. Họ nội luôn được coi trọng hơn họ ngoại, con gái phải theo con trai về làm dâu, ít trường hợp về ở rể, con cái sinh ra phải lấy họ bố.
Anh em sau 5 đời mới được phép kết hôn với nhau (có thể hơn nếu anh em họ hàng ở gần nhau) nên người Thái chủ yếu là kết hôn ngoài dòng họ.
Đám cưới: chế độ hôn nhân của người Thái ở huyện Quan Sơn cũng giống như các dân tộc khác, về cơ bản là hôn nhân một vợ một chồng. trường hợp đa thê hầu như là không có. Trước kia, trai gái vẫn được tự do yêu đương nhưng để quyết định đi tới hôn nhân lại chịu sự sắp đặt của bố mẹ và có một phần mang tính chất mua bán, thể hiện qua các khoản tiền thách cưới rất cao, cùng với đó là những món đồ mà hai bên trao cho cô dâu chú rể cũng rất đắt tiền. Ngoài ra, nhà trai còn phải nộp các lễ vật cho nhà gái trước và sau lễ cưới. Vì vậy, các chàng trai nhà nghèo thường rất khó lấy vợ. Nếu hôn nhân bị phá bỏ mà do bên nhà gái chủ động hoặc mắc lỗi thì nhà gái phải hoàn trả lại tiền và các lễ vật cho nhà trai. Các nghi thức trong cưới xin của họ cũng rất phức tạp, gồm có nhiều nghi thức phức tạp như: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, cưới lần một kèm đăng ký kết hôn, cưới lần hai (cưới to, ít nhất là 50 mâm cỗ), lễ lại mặt,…Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các quan niệm trong cưới xin đã được thay đổi, nam nữ được tự do yêu đương và không còn chịu sự sắp đặt của cha mẹ khi kết hôn, cha mẹ chỉ
có quyền góp ý cho sự lựa chọn bạn đời của con; các khoản tiền thách cưới, các lễ vật và các nghi thức trong cưới xin cũng được cắt bớt khá nhiều.
Tang ma: xuất phát từ quan niệm lâu đời là vạn vật đều có linh hồn và con người sau khi chết linh hồn vẫn còn tồn tại ở thế giới bên kia nên khi có người chết người Thái phải thực hiện hàng loạt các nghi lễ tang ma. Các nghi lễ mà người sống làm cho người chết thể hiện quan hệ tình cảm, lòng hiếu thảo, biết ơn và sự thương tiếc của người sống đối với người chết. Mặt khác, nghi lễ trong tang ma còn giúp cho linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vương vấn, oán hận điều gì ở nơi trần tục, không quay trở lại quấy phá, làm hại người sống.
Do vậy, có hai mặt trong nghi thức tang ma của người Thái, đó là thương tiếc và sợ hãi. Tang ma của người Thái ở huyện Quan Sơn được tổ chức rất chu đáo, gồm có nhiều nghi lễ chính như: lễ tắm rửa, lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ tiễn linh hồn lên trời, lễ tạ ơn, lễ đưa ma, lễ hạ huyệt, lễ mở cửa mả,… Một lễ tang được tổ chức từ 2 đến 3 ngày, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình. Đặc biệt, trong tang ma, thầy cúng có vai trò rất quan trọng, xuyên suốt trong các nghi lễ để đưa linh hồn người chết về trời. Sau 3 năm họ làm đám giỗ và không có tục bốc mộ như người Kinh.
Tín ngưỡng – tôn giáo: người Thái huyện Quan Sơn không theo một tôn giáo nào, họ chỉ bị ảnh hưởng của một số tôn giáo như Phật giáo, Nho giáo, các tôn giáo này tác động đến quan niệm và lối sống của họ. Chẳng hạn người Thái thờ tổ tiên, kính trọng ông bà cha mẹ, vấn đề trọng nam khinh nữ, phụ quyền,…của Nho giáo hay ảnh hưởng của Phật giáo như: lòng yêu thương con người, từ bi, bác ái, làm điều
thiện tránh điều ác,…Về tín ngưỡng, họ quan niệm “vạn vật hữu linh”
cho nên họ có tín ngưỡng đa thần, thờ ông bà tổ tiên và thờ các vị thần như: thần sông, thần núi,… Trong quan niệm về ma thì có ma hiền là ma ông bà, tổ tiên và ma ác là ma đi làm hại người như ma gà, ma rừng,… Trước kia, đồng bào còn thiếu hiểu biết, mỗi khi có bệnh tật họ thường mời thầy cúng về làm vía, cúng bái để xua đuổi tà ma; hay trong cưới xin, tang ma họ cũng mời thầy mo về làm lễ vừa để xua đuổi tà ma, tiễn đưa người chết về trời vừa để xin các ma tốt phù hộ cho người sống.
Lễ hội: trong một năm họ không có nhiều lễ hội, chỉ có hai lễ hội lớn là lễ hội Mường Xia và lễ hội mang tính chất tâm linh là lễ “ chá chiêng”. Người Thái nơi đây không ăn tết Thanh Minh hay ăn Rằm tháng 7 như những các dân tộc khác nhưng ngược lại, tết Nguyên Đán lại ăn rất to, họ tự làm bánh chưng, dành các loại thịt ngon nhất cho ngày tết và họ mời họ hàng, làng xóm và bạn bè đến nhà cùng ăn uống, chung vui đón tết. Họ thường ăn tết trong ba ngày là mùng 1, mùng 2, mùng 3, sau ba ngày tết họ dọn dẹp nhà cửa và trở lại các hoạt động đời thường.
Văn học, nghệ thuật dân gian: từ lâu đời, họ đã sáng tạo cho mình một kho tàng văn học nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng và giàu tính đặc thù. Họ có tiếng nói, chữ viết riêng (chữ Phạn). Về văn nghệ dân gian thì nơi đây nổi tiếng với hát Khắp, múa xòe, múa quạt, khua Luống, Khèn Bè,… Trong đó, nổi bật nhất là hát Khắp (hát Khắp là loại hình sinh hoạt, diễn sướng văn nghệ dân gian và phổ biến trong đời sống của người Thái với ý nghĩa ngợi ca quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa và ca tụng công lao của tổ tiên), Khắp Thái là những bài thơ
tự sáng tác để hát, để ngâm có đệm đàn. Người Thái có nhiều loại Khắp như: Khắp bao sáo (điệu hát trai gái), Khắp Lồng Tồng (điệu hát ngoài đồng), Khặp ca (hát chèo thuyền),…Múa Xòe của người Thái cũng rất đặc biệt, đó là những điệu múa được đệm đàn tính, đàn bầu, nhị, khèn, khua Luống, trống, chiêng vừa âm vang vùa xao xuyến. Nói về thể loại văn học thì không thể không nhắc đến chuyện thơ “Săng trụ son sao”,
“Chàng Khum Lù nàng Úa”, trường ca “Út Thêm” đã được lưu truyền rộng khắp. Bên cạnh đó, còn có kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca,…
phản ánh đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, cách ứng xử của người Thái giữa người với người, giữa con người với tự nhiên và những kinh nghiệm trong lao động sản xuất [2, tr. 15].
Tiểu kết
Nhìn chung, người Thái ở huyện Quan Sơn sống trong vùng có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp tương đối đa dạng và phong phú với nhiều giống cây trồng và vật nuôi, đặc biệt là khí hậu và địa hình nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp. Là một huyện miền núi biên giới mới được chia tách tuy còn nhiều khó khăn về đời sống kinh tế, cơ sở hạ tầng nhưng nhờ có sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền nơi đây đang dần khắc phục những khó khăn, chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang giao lưu buôn bán với các vùng lân cận.
Cùng với đó, họ có một số truyền thống văn hóa được đúc kết và lưu truyền bao đời nay có nhiều giá trị về văn hóa tinh thần. Không những thế, huyện Quan Sơn còn có một nền văn hóa thật sự phong phú và đa dạng bởi sự xen cư và cộng cư ở trong đó. Điều đó đã tác động không nhỏ đến văn hóa – xã hội của nhân dân trong huyện. Sự hòa nhập, giao
lưu và tiếp biến văn hóa đó đã tạo ra một nét đặc trưng riêng của người Thái nói chung và người Thái huyện Quan Sơn nói riêng.