ĐẠO PHAT O TAY TANG

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 2 (Trang 20 - 24)

hật giáo đầu tiên được đoàn truyền bá người Ấn Độ đưa vào Tây Tạng khoảng Ẻ thế kỹ thứ 7CN nhưng sau hai thế kỷ ảnh hưởng J của nó bị suy giảm do bởi sự hỗn loạn chính trị và tôn giáo. Vào thế kỷ 11 nó được phục hồi trở lại và Lừ đó trở thành trọng tâm của nền văn hóa và xã hội Tây Tạng.

Phật giáo Tây Tạng là một hình thức của phái Đại Thừa (AMahayana), và bao gồm nhiều tông phái đa đạng khác nhau và những

phương pháp tu tập. Về một mặt khác với nét đặc trưng về nghỉ lễ và thần bí của nó được xuất phát từ phái Tantra (Mật Tông) Ấn Độ, một hình thức Phật giáo kỳ bí được kết hợp bởi tư tưởng Phật giáo và Ấn Đệ (Bà la môn). Và một mặt khác nữa. Các truyền thống uyêu thâm của Ấn Độ đã tác động đến truyền thống tu tập công phu và hệ thống của nó.

Sự phát triển của Đạo Phật ở Tây Tạng chịu ảnh hưởng lớn lao bởi hai nhân vật có tên Pahmasambhava và Atisha.

Một du sĩ phái Mật Tông, một người tỉnh thông phù phép va vi thay đẩy tính cách thần bí, nhà vua Tây Tang đã cho mời Pahmasambhava giúp đỡ thành lập những cơ sở cho tu viện đầu tiên của Tây Tạng ở Sam-yay thê kỷ thứ 8 CN. Ông đã tìm cách hàng phục những loài ma qui địa phương muốn cản trở để án, và đưa chúng vào việc phục vụ Dharma của Đạo Phật. Ông cũng thành lập giáo hội Nyimg mapar (Nying ma pa) là một trong 4 tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Vừa là một du sĩ tài ba của phái Tantra và người sáng lập một giáo hội, Pahmasambhava tượng trưng cho hai khuynh

hướng lớn lao của Phật giáo Tây Tạng và vẫn được tôn sùng cho đến ngày nay. Người ta cũng nói đến sự kiện giống như thế về Atisha (982-1504 CN), ông đến Tây Tạng năm 1042 CN Atisha là một nhà sư uyên thâm người vùng Bengali, khắp Ấn Độ mọi người đều biết đến tài học rộng uyên bác của ông.

Ông triệt để tuân giữ giới luật tu viện và đặt nặng sự quan trọng của đời sống độc thân trong Sangha, nhưng ông cũng đem đến sự hiểu biết mới về sự nghiên cứu về sự thực hành theo Sutra và Tantra. Ông nhấn mạnh đến sự tôn kính bồ tát Avalokiteshvara và đề cao những sự tu tập đạo đức theo truyền thống Phật giáo.

Một số vị Lama khác cũng hoạt động tích cực ở Tây Tạng trong thời kỳ này, mỗi vị đều kết hợp và hòa nhập những giáo lý khác nhau. Thời gian trôi qua các tông phái phát triển, nổi tiếng với sự cạnh tranh của họ về lĩnh vực tâm linh và thỉnh thoảng về quyền lực chính trị tối cao.

Những lỏ cở cầu nguyờn. giống như những lọ cở nảy ử phớa trước cung điện Potala lọ một hỡnh thức tớch lựy cụng đức trong Phật giỏo Tay Tang

165

Tính chất đa dạng này mang lại một truyền thống Phật giáo thăng hoa và luôn luôn mang tính sáng tạo. Hầu như người Tây Tạng lúc nào cũng tìm cách hợp nhất các giáo lý trở thành một khối trọn vẹn, và điều này đẫn đến sự gia tăng nhanh các bản chú giải và các tài liệu khác, chúng đã được gìn giữ cùng với những sutra cổ điển. Sự diễn giải kinh luật Phật giáo của người Tây Tạng được hoàn tất vào thế kỷ 14 và do bởi Phật bị tiêu diệt vào cuối thế kỷ 12 CN (xem trang ð6), sự kiện này trở thành một trong những nguồn quan trọng của các kinh điển Phật giáo.

Vào thế kỷ 16 tông phái Geluk được mọi người biết đến là phái “Mao Hoàng” có được sự hổ trợ của các nhà cầm quyền Mông Cổ ở Tây Tạng, chinh phục được nhà vua và tông phái Kama-pa. Vào thế kỷ 17, người Mông Cổ làm lễ tấn phong vi Dalai Lama thứ 5 (1617-82) là vị chủ nhân của không có sự tranh cải của cứ Tây Tạng, và kể từ đó sự quyển chánh trị khắp Tây Tạng nằm trong tay của nên tảng tôn giáo. Cho đến giữa thế kỷ 20, các vị giáo chủ Dalai Lama đặt cơ sở ở Lhasa, thủ đô Tây Tạng, ở cung điện Potala, tọa lạc nơi cư ngụ của bổ tát Quan Thế Âm theo truyền thuyết.

Bic Dalai Lama

Kế từ thế kỷ 17 Dalai Lama là người trị vì và lãnh đạo tình thần của Tây Tạng bằng sự hiện thân (đầu thai) liên tục, và sau nhà lãnh đạo qua đời người ta tìm người kế vị và thường được công nhận ở một cậu bé trai. Cho đến khi trưởng thành, một nhiếp chính được chỉ định nắm quyển tạm thời. Tất cả các Dalai Lama đều có mối quan hệ đặc biệt với Avalokiteshvara (Quan Thế Âm) : một số sự kiện chứng minh rằng họ là hiện thân của vị bề tát từ bí, trong khi những

vị khác nói rằng họ có nguồn gốc của ngài hoặc con người được Avalokiteshvara ban phước lành.

Vị Dalai Lama thứ 14 bị lưu đày từ 1959, bức chân dung

của vị này được treo trong 1 tu viện ở Gansu Trung Quốc.

167

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 2 (Trang 20 - 24)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(145 trang)