NHỮNG PHẨM CHAT CUA BAC QUAN TH

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 2 (Trang 41 - 46)

heo Luận Ngữ Khổng Tử nói về mình như là một O) nav truyền bá một truyền thống chứ không phải là người tiên phong. Ngài mong muốn các đệ tử của mình trở thành những người toàn vẹn thay vì những người chuyên môn và ngài truyền dạy cho họ nhiều kiến thức khác nhau dựa trên các kinh thư. Tuy vậy, giáo lý của ngài vượt xa tầm hiểu biết của sách vở; bởi vì sách vở thường không rõ ràng và Khổng Tử phải điễn giải chúng theo cơ sở thuộc những khái niệm đạo đức của riêng ngài.

Ngoài việc truyền bá truyền thống văn hóa của ngày xưa được ngài xem là nền tảng của sự ổn định xã hội (xem trang 106). Khổng Tử đưa ra những tư tưởng mới hầu để thỏa mãn nhu cầu tâm linh và trí thức của thời đại ngài. Ví dụ, ngài đem giải thích lại các từ “quân tử” hoặc “đại nhân” có nghĩa là vị hoàng tử, một người cai trị và rộng hơn một thành viên của tang lớp cảm quyển; và “tiểu nhân” có nghĩa là những người ở giai cấp đưới, tầng lớp thường dân.. Khổng Tử thường sử dụng những thuật ngữ này trong Luận Ngữ, nhưng thông thường được hiểu là những người thể hiện các tiêu chuẩn đạo đức cao cả hay thấp hèn, như người ta có thể dùng các từ ngữ phong nhã hoặc bất nhâ. Ngài nói “Người quân tử giao hảo với mọi người nhưng không tạo nên bè phái. Chính kẻ tiểu nhân tạo nên bè phái” và “Người quân tử thì bình thản và điểm tỉnh, trái lại kẻ tiểu nhân thì nóng nảy và không thoải mái” Một người quân tử không nhất thiết phải là một thành viên của giai cấp quí tộc. Cơ bản là người này có tiêu chuẩn đạo đức cao.

185

Đối với Khống Tử, đạo đức cao cả của một bậc quân tử mà những người khác phải giật mình, là chữ “nhân” (có nghĩa là lòng thương người, lòng nhân hậu) “Nhân” được mô tả như là toàn bộ những giới đức, bởi vì Khống Tử đã từng nói rằng kiên nhẫn, dùng cảm, giản dị, kín đáo, tất cá đều liên hệ mật thiết với ý nghia của chữ “nhân”. Khi một trong những đệ tử hỏi ngài làm cách nào để tu tập chử “nhân”, ngài đáp

“Hãy yêu thương mọi người”.

“Nhân” là điều cốt yếu của mối liên hệ lý tưởng con người.

Nó liên hệ mật thiết với chữ “Đức” trong ý nghĩa người có lòng nhân từ phán xét những người khác cùng với những tiêu

chuẩn mà họ đặt ra cho bản thân mình. Khổng Tử diễn tả nguyên tắc này ở trong cái gọi là “nguyên tắc Bạc”: Đừng gây những gì với người khác mà bạn không muốn xảy ra với mình”

Bất cứ ở nơi đâu ngài đều có cùng một quan điểm nhất quán

“Một chính nhân là người muốn giữ gìn cho bản thân, gìn giữ cho người khác, và muốn nâng cao bản thân và ngay cả cho người khác” Để có thé sử dụng nhu cầu của bản thân là một gương điển hình cho cư xử với người khác là phương cách để rèn luyện chữ “nhân”.

Khổng Tử phủ nhận rằng ngài chưa đạt được chữ “nhân”

“Làm sao tôi dám nói rằng Tôi đây là nhà hiển triết, một chính nhân quan tử? Nhưng tôi đây rất thỏa thích trong việc cố gắng hướng đến chữ “nhân” và không bao giờ mệt mỏi trong việc giáo huấn những gì tôi tin tưởng. Tuy vậy, tôi không cho rằng chữ “nhân” vượt xa tầm tay của con người”.

Người đệ tử trẻ tuổi của ngài Yên Nguyên qua đời sớm khiến ngài vô cùng đau đớn không kểm nổi sự đau đớn tột bực, rõ ràng ngài đã đạt được cái đạo đức lớn lao này; ở nơi an táng của học trò mình, Khổng Tử nhấn mạnh rằng “Nguyên đã không vi phạm nguyên tắc của nhân trong 3 tháng”.

Đối với Khổng Tử, chính sự kiện rõ ràng này mà những nhà cai trị hiền đức ngày xưa, như Nghiêu, Thuần và Hầu Chu có được chữ “Nhân”. Ngài hy vọng những

Hiếu thảo của đạo làm con (Hiếu) là một trong những hình thức quen thuộc nhất mà nền đạo đức của Khổng giáo đã thể hiện qua nhiều thế kỷ. Những sách nói về chủ để nảy thuật lại chỉ tiết về những người con gái, con trai đầ thực hành

lòng hiếu thảo một cách phi thường của họ như thế nào để cha mẹ của họ được

hạnh phúc. Trong phần minh hoa nảy được trích từ một tuyển tập truyện đạo đức.

“Thập Nhị Tứ Hiếu" (biên soạn vào thế kỷ 14) các quan lại đãnh lễ nhà vua của

họ, như đứa con sẽ làm như vậy với cha mẹ của mình.

người cai trị trong thời ngài đạt được nó, ngay cả không thể đạt được nó. Một trong những vị đệ tử hỏi ngài “Giả sử một người trị vì có lòng độ lượng thương dân và giúp đỡ dân có phải là chính chính nhân quân tử?” Khổng Tử đáp “Chắc hẳn là vậy. Vị này không chỉ là chính nhân quân tữ, vị này là nhà hiển triết, thậm chí tốt đẹp hơn Vua Nghiêu, Vua Thuấn”

Không cần phải nói, những người trị vì đất nước của Khổng Tử, nước Lỗ đã làm giảm mất những tiêu chuẩn của các vì vua theo truyền thuyết mà ngài đã tôn kính và cũng như các nhà vua của những nước khác trong thời đại của ngài đã gây ra.

187

Một hình thức đạo đức khác mà Khổng Tử nhấn mạnh đó là “nghĩa” Điều này không bao hàm ý nghĩa tôn giáo, nhưng có nghĩa chính xác hơn là hãy làm những gì hợp lý và thích đáng ở bất cứ tình huống nào, đặc biệt với Năm Mối Quan Hệ (Ngũ Luân) mà người ta tin rằng xã hội đặt cơ bản: Những điểu này là cách cư xử giữa quân thần (Vua tôi), phụ tử (Cha con) Phu phụ (Vợ chồng) Huynh đệ (Anh em), Bằng hữu (bạn bè). “Nghĩa” tình thường tương phản với “lý” (trong tình huống này có nghĩa là lợi ích) đối nghịch với lễ, (xem trang 106).

TRong khi “nhân” là phẩm chất tốt đẹp nội tâm của người quân tử, là biểu hiện bên ngoài ở hành động, với biểu hiện này người ta có thể đánh giá tư cách của vị này.

Đ 1 7 A

1, Kinh lão đắc thọ 3.. Người bạn tử xa đến không phải là hạnh phúc sao?

2. Không thấy xa at sé gap muộn 4. Học mà không suy nghĩ là họa,

phiền nhưng nghĩ mà không học là tổi tệ

|

5... Tam nhân đồng hành tất hữu 7.. Người nóng nảy sẽ tạo nên những

ngã sư lỗi lắm to lớn

6. Hãy cai trị bằng đức 8. Đừng làm những gì cho người khác

ma minh khong muốn làm cho mình

Trich 6 Luận ngữ.

189

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 2 (Trang 41 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(145 trang)