CN khi thái tử Shotoku Taishi xây dựng nó như là một tôn giáo chính thức của triểu đình. Tính chất đồng bộ lâu dài của hai hệ thống tín ngưỡng hoàn toàn khác biệt nhau, một thuộc bản địa và cái khác thuộc nhập khẩu, có lẽ là điều khác lạ độc đáo và quan trọng nhất giữa Nhật Bản và Phương Tây khi nói đến những quan điểm hướng đến tôn giáo. 6 Phương Tây, khi Kytô giáo xâm nhập vào những khu vực người lelt và người Đức, những tín ngưỡng bản địa, trong đó nhiễu khía cạnh tương tự Shinto đều bị xóa sạch bằng cái tên chính thống. Các ngôi đến “Pagan” và những điện thờ các vị thân như Odin, Thoe và Lungh đều bị giật sập rồi sau đó người ta xây dựng những nhà thờ và các vương cung thánh đường thay thế vào. Thật vậy, khuôn mẫu nay duy tri trong thời đại hiện nay khi các đoàn truyền giáo đưa Kytô giáo đế moi nơi trên quả đất này.
Pex giáo tồn tại cùng với Shinto ở Nhật bản từ 593
Ở Nhật Bản các đoàn truyền giáo đạo Phật đưa ra một giải pháp khác, thay vì phá bỏ các Jinja Shinto, họ xây dựng những ngôi chùa gần đó và tuyên bố rằng các Kami và các Bodhisattvas (bồ tát, ở Nhật gọi là Bosatsu) của Phật giáo đại thừa (Mahayana) là giống nhau, khi ý thức này được kết hợp trọn vẹn, một hình thức Shinto khác phát triển và được mọi người biết đến Ryobo Shinto, ở đây Kami và Bosatsu được biến thành những thực thể linh thiêng duy nhất cùng với những biểu tượng khác nhau. Lý thuyết này được các tông phái Phật giáo Tendai yêu chuộng ở một số trường hợp dẫn
đến sự quản lý của Phật giáo với các điện thờ Shinto và giới đạo sư được kết hợp lại. Nó cũng tạo ra một mô hình nghệ thuật thường ngoạn bằng mắt thật xuất sắc ở hình thức Kanma mê tả Kami là những con người bình thường và Bodhisattvas là những con người cao cả hơn lơ lửng trên các đám mây ở trên đầu các vị thần của Shinto (một mẫu điển hình đẹp đẽ làMandala Jusara nổi tiếng).
Ngay cả nơi thần đạo tìm cách đối kháng sự xâm nhập đức tin Phật Giáo, ví dụ điển hình nhất là Ise-jing, từ đó người ta đã thấy rõ ràng có nhiều tu sĩ Phật giáo cho đến ngày nay — nhiều vị thần linh của Phật giáo được chấp nhận là những Kami. Hai trong Bảy
vị thần May Mắn; Benten và Bishamoten là những điển hình rõ ràng của sự hành đạo này. Nhân vật thứ ba, Daikokuten, mà nhà học giả thần dao Genichi Kato (1873-
1965) gọi là “vị thần nhị
nguyên” nghĩa là mặc dù daikokuten dau tiên là một vị thần Phật giáo, với sự kiện này, tên của vị này giống daikoku-sama (cũng được gọi là Okuninushi) đã tạo cho mọi người tôn sùng ở Izumo-taisha. Hơn thế nữa, đa số các ngôi chùa Phật giáo ít nhất đều có sự kết hợp của điện thờ Shinto.
Giống như nhiễu vị thần linh Shinto, than chiến tranh Hachiman, là linh hồn của
hoàng đế truyền thuyết Cỳin, có một khuynh
hướng Phật giáo. Trong bức họa này thuộc.
triều đại Kamakeiva (1185-1333), ông ta
được mô tả trong một chiếc áo cà sa của Phật giáo như là một vị bồ tát hòa một
nhà tu Phật giáo.
283
Những khuynh hướng kết hợp hài hòa giữa hai đức tin có lẽ rõ ràng nhất trong thái độ tín ngưỡng của chính người Nhật. Ngoại trừ một số tín đồ của một số “tôn giáo mới” như Tenrikyo, hầu hết người Nhật sẵn sàng chấp nhận là tín đồ Shinto va tin dé Phat giáo và không thấy bất cứ một sự tương phản nào trong sự kiện này. Ví dụ, đa số người Nhật đều kết hôn theo nghi lễ Shinto và chôn cất theo nghi lễ Phật giáo nhấn mạnh một nhận thức quen thuộc cho rằng Shinto là “tôn giáo của cuộc sống” trong lúc Phật giáo là “tôn giáo của sự chết”. Người ta đi lễ chùa Phật giáo trong quảng đời với nhiều lý do giống như họ đến các điện thờ Shinto, nhưng tuy vậy hầu hết các nghĩa trong của người Nhật lại gắn liền với đền chùa Phật giáo hơn là jinja Shinto.
Đạo Phật không phải là hệ thống tín ngưỡng nước ngoài duy nhất ảnh hưởng đến Shinto. Mặc dù sự thờ cúng tổ tiên hầu như chắc hẳn tổn tại ở Nhật Bản trước khi có sự tác động của nên văn hóa Trung Quốc thế kỷ thứ 6. Khổng giáo, được đưa vào đất nước này bởi cùng những đoán truyền giáo đã đưa đạo Phật vào, chắc chắn đã tạo cho nó một sự thúc đẩy mạnh mẽ. Hơn thế nữa, hai trong Bảng Vị thần May Man, Hotei và Fukurokuju la người của Lão giáo. Giống như tất cả các tôn giáo khác, Shinto đã lôi cuốn mạnh mẽ những hệ thống tôn giáo mà nó tiếp xúc. Mặc dù có những ảnh hưởng nước ngoài nay, nhưng dù thế nào đi nữa, cốt lỏi của đức tín Kami van duy trì nguyên vẹn tính cách cơ bản của nó. Từ tất cả những đấu hiệu chứng tổ nó vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ yếu trong đời sống tâm linh của đại đa số những người dân Nhật, bất cứ những tư tưởng triết học hoặc tôn giáo nào họ vẫn có thể tán thành.
Jenaikuo - ?Hột ông (hái Shunto
Vào cuối triểu đại Meiji năm 1912, chính quyển Nhật Bản công nhận 13 tông phái Shinto. Một trong những tông phái này là TenriKyo. Nó được sáng lập vào năm 1838 bởi vợ của một người nông dân có tên Miki Nakayama (1798-1887), sống ở gần cố đô Nava. Vào một đêm, trong khi sản sóc cho đứa con trai bị bệnh, bà ta thiếp ngủ và bị ám ảnh bởi một Kami đồng hóa ông ta với Tentaishogun, “Đại thống tướng của cổi trời” Tentaishogun tiết lộ rằng chính ông ta và chín thuộc hạ của mình là Kami thật sự, và họ đã chọn Nakayama truyền bá thông điệp của họ. Thông điệp này cuối cùng được viết ra là một tập thơ 1711 câu được gọi là “Ofudesaki”. Được hoàn tất vào năm 1883, sau 15 năm sáng tác, thơ chứa đứng những mặc khải mà Nakayama nhận được liên quan đến cổi trời, những Kami ngự trị ở đó và vai trò của con người trong tính cách thiêng liêng này là một vai trò tương tự bố mẹ theo đỏi một đứa con của mình chơi đùa.
Vào thời điểm, Tenrikyo phát triển tông phái Shinto chính, với các trụ sở của nó nằm ở thành phố Tenri, ngay ở phía nam Nara. Ngày nay nó tuyên bố có gần hai (02) triệu tín đổ, và một trong những “tôn giáo mới” thành công nhất của Nhật Bản.
Mặc dù có sự liên quan của nó với kiếp vị lai phản ánh một số nét của giáo lý Tính Độ Phật giáo, cốt lôi của giáo lý Tenrikyo xuất phát trực tiếp từ khái niệm cơ bản Kami của Shinto, và với quan điểm cho rằng vũ trụ và tất cả những gì nó chứa đựng là sống động bởi một sự hệ thống cấp bậc của các vị thần linh.
285
286
Muye Lue
tt
Lời Giới Thiệu
Ấn Độ giáo (Bà La Môn)
Bản ngã và sự tuyệt đối Thánh kinh
Thiên anh hùng ca Ramayana Mahabharata và Bhagavad Gita
Những chu kỳ thời gian và sự sáng tạo
Dharma (trật tự giáo pháp) và Karma (nghiệp) Bến giai đoạn của cuộc sống
Bến mục đích của cuộc sống
Những con đường dẫn đến sự cứu độ Những biểu tượng thần thánh
Thân Vishnu và những biểu hiện của Ngài Krishna
Rama va Sita Than Shiva Ganesha Nữ thần
Đền và miếu thờ
Hành hương và sự cúng dường Lễ hội và những ngày thánh lễ
Các vị thánh và những nhà hiển triết
Phật giáo
- Những tiền kiếp của đức Phật và kiếp cuối của ngài
Cuộc sống xa hoa và sự xuất gia vĩ đại
- Giác ngộ : cuộc chiến đấu và phần thưởng của nó - Giáo pháp của đức Phật
- Thế giới đạo phật ; vạn vật đều khổ (Duhkha) - Tái sinh và Karma (nghiệp)
- Tứ Diệu Đế
- Con đường dẫn đến sự diệt Duhkha
- Những cách nhìn khác nhau về eon đường - Cộng đồng Phật giáo
- Giới luật và kinh điển
- Các vị A-La-Hán - Bồ Tát và những vị đại Tổ sư khác
- Zen và Phật giáo Nhật Bản - Đạo Phật ở Tây Tạng - Khổng giáo (Nho giáo) - Khổng Tử người thấy vĩ đại
- Những nhà hiển triết Trung hoa thời cổ - Cõi trời và linh hỗn
Những phẩm chất của bậc quân tử - Lễ nghi Khổng giáo
Mạnh tử và Tuân tử
Nghỉ thức thờ cúng của quốc gia Tân Khống giáo
Đạo Khống ngày nay
97 102 106 112 118 122 128 132 186 140 145 149 153 157 164 168 173 179 181 185 190 194 198 202 206 287
288
Đạo gia (lao giáo) Lão tử và đạo đức kinh Đạo và năng lực của nó Trang tử và Liệt tử
Thất hiển Trúc lâm
Thuật luyên đan và sự theo đuổi trường sinh bất tử
Ngũ đầu mễ đạo (đạo năm đấu lúa) Phật giáo và Lão giáo
Giới đạo sĩ và nghị lễ Đa thần của Lão giáo Những vi than bat tử Các tông phái lão giáo Thần đạo Shinto
Vị thần linh (Kami) chính
Điện thờ và những nơi thiêng liêng Nghi lễ và lễ
Một buổi lễ Shinto (Matsuri) ở khu vực ngoại ô
ội
Thần đạo và Phật giáo sống chung trong 1500 năm
210 214 216 220 225 227 234 287 241 244 248 254 256 261 267 276 280 282