Sự phát triển nhận thúc

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 98 - 105)

A. Freud, theo dõi sự phát triển của trẻ mổ côi trong chiến tranh

3.2. Sự phát triển nhận thúc

Trẻ có khả năng tri giác từ rất sớm. Trong một cuộc thực nghiệm người ta cho trẻ 4 tháng tuổi xem hai bộ phim mà trẻ chưa xem, 1 bộ

phim có lổng tiếng còn một bộ thì không. Và trẻ thích xem bộ phim

có tiếng hơn, điểu đó chứng tỏ rằng ở trẻ đã có sự phối hợp hoạt

động của các cơ quan thị giác và thính giác.

- Sự phối hợp của các cơ quan cảm giác tạo thành các liên kết tri

giác có vai trò quan trọng đối với trẻ. Để nhận biết thế giới xung

quanh, trẻ cẩn phải biết âm thanh nào thường đi kèm với hình ảnh nào mới là thích hợp (con mèo kêu meo meo trong, như thế nào), mùi | vị nào thường đi kèm với hình: đáng và màu sắc nào (sữa: thơm ngon - có màu 8 và thường đựng trong cái bình như thế nào).

Rõ ràng là ngay từ khi sinh ra trẻ đã có khả năng phối hợp hoạt động của các cơ quan cảm giác. Sự liên kết cảm giác ở trẻ phát triển rất nhanh trong vòng 1 năm đầu, sau đó khả năng này phát triển dần và trẻ càng lớn thì khả năng tri giác tổng thể ở trẻ càng tốt hơn.

_Sự tập trung thị giác tiếp tục được hoàn thiện, thời gian tập trung tăng dần. Khả năng phân biệt màu sắc của trẻ không ngừng hoàn.

thiện. Trẻ có thể đõi theo những vật chuyển động. Vừa doi theo, vita đập chan dap tay, vừa phát ra những â âm thanh : sưng sướng.

Trẻ đã có thể phân biệt vật mới với vật quen thuộc, phân biệt được khá nhiều thuộc tính của vật, như màu sắc, hình dáng, độ phức tap. Bat dau có khả năng | trị giác không gian, tri giác độ sâu.

Gibson cùng. với các đồng nghiệp của mình đã làm thí nghiệm thú vị nghiên. cứu khả năng tri giác độ sâu của trẻ (Gibson, Walk, 1960). Khoảng không gian là một cái hố lớn sâu gần 1m được phủ lên trên bằng một lớp kính dày, có thể chịu được trọng lượng cơ thể trẻ.

Ngay phía. dưới tấm kính, mặt sàn và đáy của hố là những mặt.

phẳng được che phủ bằng tâm chăn kẻ ô vuông cùng màu. Chiều rộng của hố có thể trên dưới 1m. Trẻ trước 5 tháng tuổi còn chưa biết bò cảm thấy thích thú và không hể SỢ hãi khi người ta đặt chúng lên tấm kính đặt ngay trên hố sâu. Trẻ mới biết bò, khoảng 6, 7 tháng, _vẫn không ngẩn ngại bò qua tấm kính. Đến gần 8 tháng tuổi hoặc.

hơn 8 tháng tuổi, trẻ nhất định không chịu bò qua tấm kính, nơi bắc qua hố, trẻ dừng lại ở ranh giới giữa mặt sàn với mặt kính của hố, dù cha mẹ có khuyến khích, cổ vũ thế nào đi nữa. Điểu này chứng tỏ trẻ

- Từ khi sinh ra trẻ biết nhìn mọi vật xung quanh một cách có chọn lọc. Trẻ thích nhìn các hình ảnh mới mẻ, phức tạp, và đặc biệt

thích nhìn khuôn mặt của con người. Mới đầu trẻ thích nhìn ngắm

các đường nét bên ngoài của khuôn mặt, nhưng đến tháng thứ 2 thì

trẻ lại tập trung nhìn vào đôi mắt. Vào tháng thứ 4 trẻ thích nhìn

ngắm các khuôn mặt đẹp, cân đổi hơn là các khuôn mặt méo mó, sai

lệch. Đên tháng thứ 5 trẻ hay nhìn vào miệng của người nói chuyện, và đến tháng thứ 7 trẻ đã nhìn vào toàn bộ khuôn mặt của người nói chuyện và có thể phân biệt được các biểu hiện nét mặt khác nhau, ví dụ: trẻ phân biệt được nét mặt vui với nét mặt sợ hãi. Các nghiên cứu của ‘Carpenter da chi ra rang tré so ‘sinh thich nhin mặt mẹ. Các nhà khoa học đưa cho mỗi đứa trẻ xem ảnh khuôn mặt mẹ và ảnh khuôn mặt của một phụ nữ khác thì trong vòng 2 tuần trẻ vẫn thích nhìn ảnh khuôn mặt mẹ hơn. Đôi khi trẻ còn ngoảnh mặt đi không nhìn ảnh khuôn mặt của người khác. Nhiều nhà khoa học cho rằng, khả năng nhận biết khuôn mặt mẹ và yêu thích nó là khả năng không thể thiếu để hình thành mối quan hệ gắn bó giữa trẻ và cha mẹ. Việc trẻ

thích thú nhìn mặt mẹ và yên lặng khi được bố bế làm cho các bậc

cha mẹ cảm thấy mình là những người quan trọng, không thể thiếu đối với trẻ. Điểu này kích. thích cha mẹ gắn bó với con hơn nữa, di đâu cũng nhớ đến con, lo cho con, muốn quay về vớicon. -

Trẻ còn có khả năng bắt chước theo các biểu hiện nét mặt khác nhau của người lớn. Các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng trẻ so sinh có khả năng bắt chước. Họ chọn thời điểm trẻ ở trong trạng thái thức tỉnh, không nghịch ngợm và không quá đói (đó là lúc trẻ trí giác mạnh mẽ nhãt): Khi trẻ nhìn vào mặt người mẹ, người mẹ bắt đầu thể hiện lần lượt những trạng thái nét mặt khác nhau: mím môi, the lưỡi, há mồm. Mỗi trạng thái nét mặt được giữ đủ lâu để cho trẻ có thể bắt chước được trước khi chuyển sang trạng thái nét mặt khác.

Tất cả các hoạt động của người mẹ và phản ứng của trẻ được ghi lại bằng máy ghi hình. Qua phân tích băng ghi hình người ta thấy có sự giống nhau giữa những biểu hiện nét mặt ở trẻ và ở người mẹ

(Carpenter, 1983). Khả năng bắt chước những biểu hiện nét mặt của người lớn cũng là yếu tố quan trọng của sự phát triển, có vai trò củng cố mối liên hệ tình cảm giữa trẻ và cha mẹ. Các bậc cha mẹ cảm thấy

rang con rat hiéu và thương mình. Mẹ vui thì con vui, mẹ buổn con cũng buổn, mẹ khóc con cũng khóc.

Để phát triển khả năng tri giác và khối lượng biểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh, người lớn cẩn cố gắng đưa trẻ đi đạo chơi, nói chuyện với mọi người để trẻ có thể tri giác những cảnh vật đa dạng xung quanh, làm quen với những điều mới lạ, nhằm thỏa mãn _ nhu câu 0ê các ấn tượng mới mẻ của trẻ. — ˆ

Trí nhớ: Chúng ta biết rằng trẻ 4 tháng tuổi thích nhìn các đổ vật mới hơn, và điểu đó chứng tỏ rằng trẻ nhớ các đổ vật mà chúng được nhìn thấy trước đó. Để bắt chước theo người lớn thì trẻ cẩn phải ghi nhớ các âm thanh đo người lớn tạo ra và các hành động của người lớn. Để nhận ra mẹ thì trẻ phải nhớ khuôn mặt mẹ, giọng nói của mẹ.

Người ta giấu đổ chơi trước mắt trẻ và để tìm được đổ chơi ãy, trẻ phải nhớ lại nơi mà đổ chơi được giấu.

Theo quan điểm của Piaget, việc trẻ nhận thức được tính ổn định của các sự vật là thành tựu quan trọng của thời kỳ tâm vận động.

Tính ổn định của các sự vật, hiện tượng là sự nhận thức được các sự vật, hiện tượng luôn tổn tại trong thời gian và không gian, không phụ thuộc vào việc trẻ có tri giác thấy các sự vật, hiện tượng ấy hay không. Biểu hiện của việc trẻ nhận thức được tính ổn định của sự vật trước hết ở khả năng nhận biết được các đổ vật quen thuộc, tiếp đến

là trẻ cần có hành vi tìm kiểm khi đổ vật biến mất.

Hành vi tìm kiểm hình thành ở trẻ qua một loạt các giai đoạn phát triển. Trẻ dưới 5 tháng tuổi không thử tìm kiểm đổ vật, trẻ ngay lập tức quên đi mất đổ vật khi đổ vật bị che khuất. Hành vi tìm kiếm hình thành ở trẻ từ 5 đến 8 tháng tuổi. Trẻ ở độ tuổi này rất thích thú khi chơi trò trốn tìm, trẻ thích trốn đưới chăn hoặc là thích nhắm mắt rổi lại mở mắt ra. Tuy nhiên hành vi tìm kiếm của trẻ dưới 1 tuổi còn nhiều hạn chế. Nếu như một món đổ chơi biến mất sau cánh cửa và khi mở cửa ra thì một món đổ chơi khác xuất hiện thay thế cho món đổ chơi cũ, thường là trẻ thấy ngạc nhiên, nhưng lại không đi tìm món đổ chơi cũ. Những đứa trẻ lớn hơn khoảng từ 12 đến 18 tháng tuổi lại băn khoăn, tự hỏi không biết món đổ chơi cũ biến mất đâu, và thường là chúng thử tìm kiếm nó.

Khả năng nhận thức được tính ổn định của các sự vật, hiện tượng có liên quan chặt chẽ với trí nhớ hình tượng của trẻ. Trí nhớ hình tượng là khả năng hình dung các sự vật, hiện tượng đưới dang các hình ảnh hay nói cách khác là khả năng tái hiện các sự vật, hiện tượng khi chúng không còn tổn tại trực tiếp trước mắt. Hoạt động bắt chước chính là biểu hiện của trí nhớ hình tượng trẻ.

Vận động uà tự duy

Piaget cho rằng trẻ nhỏ luôn tích cực, năng động, sáng tạo, và có hệ thống cấu trúc thần kinh phù hợp với việc tiếp nhận và tổ chức thông tin. Các hệ thống cấu trúc này dẩn trở thành các cấu trúc nhận thức phức tạp hơn thông qua các giai đoạn phát triển diễn ra liên tục.

Theo Piaget giai đoạn đầu của sự phát triển của trẻ là giai đoạn cảm giác vận động. Trẻ lúc mới sinh đó phản ứng lại những tác động của môi trường xung quanh nhờ vào các khả năng cảm giác, trỉ giác và vận động. Những hành vi vận động ban đầu giống như các phản xạ, qua quá trình đổng nhất và thích ứng, các phản xạ ấy làm hình thành nên ở trẻ hệ thống chức năng như: mắt nhìn, theo dõi bằng mắt, bú sữa, nắm, sờ mó và kêu, khóc. Trong giai đoạn đầu, những

hành vi cơ bản này giúp trẻ phát triển nhận thức và có những hiểu biết ban đầu về sự vật, con người và về chính bản thân mình.

Ngoài những vận động thô, ở trẻ đã xuất hiện những vận động tỉnh khá phức tạp, gắn liển với khả năng tri giác tổng thể của trẻ. Đến

tháng thứ 5, thứ 6 trẻ có thể với được vật một cách chính xác. Để làm được việc này đòi hỏi sự phối hợp phức tạp giữa thị giác và cơ quan

vận động. Hành động với đổ vật một cách chính xác có thể coi là

hành động có định hướng đầu tiên, là cơ sở phát triển các hành động

SỜ, nắm, các thao tác với đồ vật sau này của trẻ.

Sau 6 tháng, trẻ có thể hua hua những vat lấy. được, đập, gam, ném, rồi lại nhặt lên, đưa từ tay này sang tay kia, lặp lại ¡ những hành động gây thú vị.

Sau 7 tháng trẻ có thể đặt các vật bé vào các vật to, đóng mở hộp.

_ Sau 10 tháng ở trẻ xuất hiện những hành động chức năng đầu tiên, bắt chước hành động của người lớn trong việc sử dụng một số

đổ vật. Trẻ bat đầu lĩnh hội những nguyên tắc hành động đẩu tiên

với những đồ vật do loài người sáng tạo ra. Ví dụ, đưa cốc lên miệng

uống nước, ôm búp bê đung đưa, đưa thìa lên miệng,... Trẻ bắt đầu tích cực tìm tòi, khám. phá những thuộc. tính của các vật xung quanh, trẻ quan tâm “đây là cái gì”, “dùng để làm gì”. Tri giác và hành động là cơ sở cho sự phát triển những hình thức đầu tiên của tự duy trực quan hành động xuất hiện vào cuối năm thứ nhất. ˆ

Ví dụ, nếu đặt một quả bóng vào cái rổ nhựa, đặt trên giường, trong tầm tay với trước mặt một đứa trẻ 10, 11 tháng tuổi đang đứng vin canh dé, trẻ bắt đầu có khả năng kéo rổ lại gần để lấy quả bóng;

khi quả bóng tuột khỏi tay trẻ, lăn ra xa, đến gần mép khác của

giường, trẻ sẽ đi vịn vòng quanh giường lại phía mép giường gần quả bóng hơn để với lấy nó. Những hành động đó là những hành động phối hợp có cấu trúc phương tiện — mục đích, tuy nhiên đó chưa phải là hành động tư duy thực sự.

3. 3. Sự phát triển ngôn ngữ

Giai đoạn trước khi trẻ có thể hiểu và nói được ngôn ngữ gọi ila giai doan tién ngén ngit. Ngay ttr khi mdi sinh trẻ đã thường xuyên khóc khi khó chịu. Đầu tiên tiếng khóc của trẻ gần như giống nhau trong các tình huống khác nhau. Đến khoảng 2 tháng, trẻ bắt đầu có

các hành vi biểu hiện các nhu cẩu khác nhau của mình, ví dụ, trẻ

khóc khi muốn ăn, ọ khi ướt tã lót,... Đến 3-4 tháng tuổi trẻ có thể ê ê a, quay đầu về phía có giọng nói. 5 tháng tuổi, trẻ đã có thể phát â âm

các nguyên âm và phụ âm.

6 tháng, trẻ có thể bập bẹ, nghĩa là phát â âm những â âm thanh đơn giản như ma - ma, ba - ba, pa - pa. Điểu này rất quan trọng giúp trẻ sử dụng môi, lưỡi, thanh quản để “tập” phát â âm những đơn vị âm thanh cơ bản. Thường thì cha mẹ đáp lại những tiếng bập bẹ của trẻ bằng những âm thanh tương tự lấy từ trong tiếng mẹ đẻ, kết hợp với cử chỉ âu yếm, nét mặt tươi vui và ánh mắt trìu mến. Những điểu này khích lệ trẻ tích cực “giao tiếp” hơn.

Đến khoảng 9, 10 tháng, trẻ bắt đầu bi bô. Đó là khi trẻ bắt đầu

bắt chước âm thanh của người lớn, hoặc lặp lại những âm thanh của mình. Trẻ thích được người lớn chỉ cho các con vật, bắt chước kêu

tiếng kêu của chúng. Đây có thể coi là thời điểm trẻ bắt đầu giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Giai đoạn này trẻ cũng có một số cử chỉ phi ngôn ngữ (giang tay đòi mẹ bế, tránh né người lạ). Trẻ cũng bắt đầu hiểu một số lời nói đi kèm với cử chỉ phi ngôn ngữ, âm điệu của người lớn. Ví dụ, khi người mẹ nói với giọng dịu dàng “ra mẹ bế nào” và giơ hai tay ra đỡ trẻ thì trẻ hiểu và nhoài về phía mẹ để được bế. Nhưng nếu nói câu nói đó với nét mặt không cảm xúc, giọng khiêm khắc, không giơ tay ra đỡ trẻ thì trẻ sẽ không hiểu.

Khi gần 1 tuổi, hầu hết trẻ đã biết phát âm những ( từ đầu tiên. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em diễn ra theo 2 hướng: một mặt là hiểu lời nói của người lớn, mặt khác là hình thành ngôn ngữ tích cực của

riêng mình.

Các mốc chính của sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em theo tháng tuổi:

3 tháng ---___ Cười khi người khác nói chuyện với mình, ê a.

4 tháng Quay đầu về phía giọng nói phát ra 5 thang Phát âm các nguyên âm và các phụ âm 6 tháng Từ ê a chuyển sang bập bẹ

8 tháng Phát âm lặp đi lặp lại các âm tiết (ví dụ, "ma-ma") 12 tháng Hiểu được nghĩa của một số từ; có thể phát âm một vài từ

Như vậy, trong vòng 1 năm đầu trẻ đã hiểu được nghĩa của một số từ và có thể phát âm một vài từ. Trẻ dễ dàng, nhanh chóng học được ngôn ngữ là nhờ tương tác ngôn ngữ với mọi người xung quanh. Việc trẻ và mẹ cùng nhau chơi các trò chơi, đi chơi sẽ giúp cho trẻ biết được tên gọi của các vật và các hoạt động gắn liền với chúng. Ngoài cha mẹ, trẻ em từ 1 năm tuổi đều thích thú khi giao tiếp ngôn ngữ với những người xung quanh, bắt chước ngôn ngữ và những biểu hiện cảm xúc khác nhau của người lớn. Nhiều nghiên cứu vể ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi này khẳng định: trình độ ngôn ngữ của trẻ em phụ thuộc chủ yêu vào hoạt động giao tiếp của người lớn với trẻ. Càng thỏa mãn nhu cẩu giao tiếp của trẻ nhiều bao nhiêu, ngôn ngữ của trẻ càng phát triển phong phú đa dạng bấy nhiêu và ngược lại.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 98 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)