Sự phát triển trong bào thai

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 69 - 76)

Sự phát triển của con người bắt đầu từ khi thụ thai. Tế bào trứng thụ thai — một tế bào. duy, nhất bé tới mức mắt thường không nhìn thấy được - mang trong mình toàn bộ thông tin đi truyền cẩn thiết để tạo ra một cơ thể mới. Tuy nhiên, con đường mà tế bào đó phải trải qua trong suốt 9 tháng tiếp theo không dễ dàng, đôi khi còn nguy hiểm. Người ta tính rằng từ 50 đến 70% tế bào trứng đã thụ thai bị chết trong vòng. 2 tuần lễ đầu tiên sau khỉ thụ thai, còn gần 25% số tế bào đã thất thoát vào thời. gian sau khi người phụ nữ biết là đã. có thai. Tuy vậy, vẫn còn nhiều tế bào trong số đó sống

được đến khi những đứa trẻ khoẻ mạnh ra đời... : 1.1. Các giai đoạn phát triển trong bào thai...

_ Thông thường, quá trình: mang thai kéo dài khoảng 38 tuần (266 ngày) kể từ khi thụ thai và chư kỳ 9 tháng mang thai của người : mẹ có thể chia ra làm 3 giai  đoạn, mỗi giai đoạn cú ba thỏng. "ơ

Tuy. nhién, néu xem 1 xét Các sự kiện quan trọng. diễn ra 2 trong, qua trinh phát triển của bào thai thì người ta có cách phân chia giai dogn khac, khéng theo thoi gian, ma theo c các mốc phát tr triển của bào thai.

Cụ the như sau: | số -

Giai đoạn 1 Thụ thai va thời kỳ ghép n mô

- Tất cả phụ nữ sinh ra đã có các tế bào trúng. Các tế bào trứng thông thường chín theo từng trứng một qua một khoảng thời gian nhất định trong suốt độ tuổi sinh sản của người phụ nữ (thời gian mà người phụ nữ có khả năng sinh đẻ). Khoảng vào ngày thứ 10 sau khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt ở phần lớn phụ nữ, tế bào trứng đã phát

triển do tác động của các hoóc-môn, vào cuối ngày thứ 13 hay 14 noãn bao quanh trứng phát triển, còn tế bào trứng bắt đầu chuyển dich theo một trong hai ống dẫn trứng (ống Falốp). Hiện tượng tế bào trứng thoát khỏi buổng trứng gọi là rụng Ứng.

Đối với phần lớn phụ nữ, thời điểm rụng trứng diễn ra vào ngày thứ 14 sau khi kinh nguyệt bắt đầu. Thời gian sống của tế bào trứng đã chín từ 3 đến 5 ngày.

Tĩnh trùng ở người đàn ô ông trưởng thành bình thường được sản.

xuất ra hàng ngày. Khi giao hợp, các tế bào tinh trùng đi vào âm đạo của phụ nữ và có thể sống được 2 - 3 ngày. Điểu đó có nghĩa là có khoảng một tuần lễ xung quanh thời điểm trứng rụng có thể diễn ra

sự thụ thai. Nếu tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ đi chuyển

xuống phía dưới theo ống dẫn trứng hướng về phía đạ cọn và bị phân huỷ ở đó.

Đường đi của các tỉnh trùng tới tế bào trứng trong ống dẫn trứng khá là gian truân. Tỉnh trùng phải len lỏi theo một cái ống rất nhỏ có độ dài khoảng 30cm có chứa dung dịch axít. Vượt qua được dung dịch này và nhiều trở ngại khác, cuối cùng nó cũng đến được nơi cẩn đến

vào thời gian thích hợp. Chỉ có một tinh trùng xâm nhập được vào tế bào trứng qua cái màng bọc ngoài trứng, và nó quyết định giới tính và các đặc điểm di truyền của đứa trẻ. Từ thời gian đó quá trình thụ thai bắt đầu. Trong suốt 24 — 48 giờ đồng hổ tiếp theo, gien di truyén cua hai cá thể kết hợp lại với nhau và tạo ra một thực thể sống mới.

Tế bào trứng đã thụ thai trong vài ngày sẽ chuyển xuống phía dưới theo đường ống dẫn trứng hướng về phía tử cung đổng thời bắt đầu phân tách. Quá trình tách ra này kéo dài khoảng một tuần lễ cho tới khi mẩm hình thành. Đến lúc này mầm đã di chuyển đến cổ tử cung và sẽ ghép vào thành dạ con (ghép mô) trong một vài ngày sau đó. |

Thông thường thì việc ghép mô được kết thúc khoảng 2 tuần sau

khi thự thai. Day là thời gian các tế bào được phân tách và tổ chức

cực kỳ nhanh chóng, bắt đầu quá trình phân loại các tế bào, tức là các tế bào được tách thành các nhóm cho phù hợp với các chức năng sau này. Quá trình tách các tế bào diễn ra rất nhanh, cho tới cuối ngày

thứ sáu đã hình thành hơn 100 tế bào, chứa đựng cùng một tập hợp đi truyền AND như nhau.

'Có tới trên 50% tế bào trứng đã được thụ thai nhưng không thể

ghép mô. Một số tế bào trứng không phát triển được thành mầm

hoàn chỉnh, số khác không sống được trong môi trường dạ con không thuận lợi. Sự ghép mô không thành có thể mang lại kỳ kinh nguyệt chậm hơn thường lệ kèm theo nhiều bài tiết, vì vậy người phụ nữ có thể không biết được rằng họ đã thụ thai.

. Hiện tượng sinh đôi: Đôi khi trong lần phân tách đầu tiên có hai tế bào hoàn toàn tương đổng được hình thành, sau đó chúng tách ra và phát triển thành hai cơ thể. Trong trường hợp này xuất hiện cặp song sinh cùng trứng. Cũng có trường hợp từ buổng trứng thoát ra hai tế bào trứng, mỗi tế bào đó sau khi kết hợp với tỉnh trùng tạo thành các cặp sinh đôi (sinh ba) khác trứng, có các đặc điểm đi truyển khác nhau.

Giai đoạn 2. Thời kỳ phôi

- Sau khi ghép mô, bắt đầu thời kỳ phôi. Đó là thời kỳ phát triển và tăng trưởng quan trọng kéo đài đến cuối tháng thứ hai.

.Có hai quá trình quan trọng diễn ra trong suốt thời kỳ phôi. Thứ nhất là, từ lớp ngoài của tế bào hình thành tất cả các mô và các kết cấu có chức năng duy trì, nuôi đưỡng và bảo vệ phôi, sau đó là nuôi dưỡng và bảo vệ bào thai. Thứ hai là, từ phôi thai bắt đầu phát triển tất cả các cơ quan và các mầm mông đặc trưng của bào thai.

_ Các kết cấu bổ trợ ( duy tri). Lop ngoai của tế bào có ba kết cấu. Kết cấu a the nhất — màng bọc. thai nhỉ, chứa đầy dịch thể, có tính chất như ái “đệm gối” bảo vệ thai nhi. Kết cấu thứ hai — #Ểaw thai, ở trên thành dạ con có vai trò như bộ lọc. Kết cấu thứ ba — đây rốn hay là cái cuống nhau, là dây cơ dẹt, trong đó có hai động mạch và một tĩnh mạch nối người mẹ với đứa con.

Một điều cần lưu ý là hệ tuần hoàn của "thai nhỉ và người mẹ không phải là hệ tuẩn hoàn chung. Nhau thai đảm bảo sự trao đổi Các chất giữa cơ thể người mẹ và phôi thai, khuếch tán các chất đỉnh

dưỡng và các chất bảo đảm cho hoạt động sống của thai nhỉ qua các màng tế bào. Đáng tiếc là các virút và những loại thuốc và dược - phẩm người mẹ sử dụng có thể thâm nhập qua nhau thai, gây hại

cho cơ thể thai nhỉ đang phát triển.

Phôi thai. Vào cuối tuần thứ 4 trái tim đứa trẻ bắt đầu đập và hệ thần kinh của đứa trẻ cũng bắt đầu hoạt động theo chức năng, mặc dù mới chỉ dưới dạng sơ khai. Tim và hệ thần kinh góp phần làm cho phôi thai phát triển như là một cơ thể hoàn chỉnh. Tất cả điểu đó diễn ra cùng với thai nhi có chiều dài khoảng 6mm, và thường là trước khi người phụ nữ biết được mình mang thai.

Trong 6 tuần lễ của thời kỳ phôi thai ở đứa trẻ xuất hiện tay,

chân, các ngón tay, ngón chân, mặt, tim, óc, phổi và các cơ quan sống

quan trọng khác. Vào cuối thời kỳ đó phôi thai đã có hình hài con

người nhỏ bé. |

Trong vòng hai tháng tất cả các hệ thống và các cơ quan đều phát triển nhanh chóng. Từ các phôi tứ chỉ nhỏ trên thân phôi thai hình thành các tay và chân. Ở phôi thai một tháng có thể thấy được hai mắt sắp xếp theo hai bên đầu; khuôn mặt thai nhỉ trong suốt 2 tháng có những thay đổi diễn ra hàng ngày. Các cơ quan nội tạng hình thành:

phổi, hệ tiêu hoá và bài tiết, mặc dù chúng chưa hoạt động.

Say thai. Say thai phan lớn xây ra trong vòng ba tháng đầu tiên, gần như 90% trong số đó diễn ra vào tuần lễ thứ 12 và 13, sau tuần lễ thứ 20 hiếm khi sẩy thai. Có hiện tượng này trước hết là do nhau, cuống nhau hoặc bản thân phôi thai phát triển không đúng. Do thai nhỉ nhận các chất dinh dưỡng qua nhau từ cơ thể người mẹ nên các chất ô nhiễm đi vào cơ thể người mẹ, việc ăn uống không đúng (thiếu chất), tuổi tác hay sức khoẻ của người mẹ đểu có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai và có thể là những nguyên nhân gay say thai.

Giai đoạn 3. Thời kỳ phát triển các cấu trúc chức năng

(Thời kỳ này kéo dài từ đầu tháng thứ ba cho đến thời gian sinh đẻ) Trong tháng thứ ba tiếp tục hình thành các cơ cấu thân thể thai nhỉ. Trong các con mắt còn đang ở hai bên cạnh đầu đang hình thành

mống mắt và các dây thần kinh nối các con mắt với não bộ. Trong lợi đang hình thành cái môi. Các vành tai bắt đầu to ra rõ rệt, các khuỷu tay, chân, các tuyến giáp trạng và thận hình thành. Sự phân chia cuối cùng diễn ra đối với các cơ quan sinh sản của thai nhi cho phù hợp với các đặc tính di truyển và giới tính của nó. Gan bắt đầu hoạt động, xuất hiện các phản ứng dịch tiết tố của dạ dày. Bắt đẩu quá trình hình thành đốt xương sống, sụn cứng lại dần biến thành xương. _

Thai nhi chưa có khả năng tự tổn tại song đã có hầu như tất cả các cơ quan và các hệ thống mặc dù chiểu dài thân thai nhi mới chỉ có

7,5cm và trọng lượng khoảng 14g. | "ơ

Trơng những tháng tiếp theo có thêm hàng loạt các thành phần kết cấu như môi, móng tay, móng chân, các mẩm răng; những bộ phan quan trọng nhất cho sự sống như tim, phổi và não bộ chín muổi.

Tháng thứ 4, chiều dài cơ thể tăng lên, cái đầu trông không còn to như các tháng trước. Trên khuôn mặt cặp môi đã khác, sức mạnh _của cơ tim tăng lên đến mức tẩn số co bóp của tim bắt đầu lên

120 - 160 nhịp trong một phút. ps

Trong tháng thứ 5, ở thai nhỉ biểu hiện các phản. xạ nam víu, khối lượng và sức vận động tăng lên. Bây giờ người mẹ có thể cảm nhận thấy lúc thì khuỷu tay lúc thì Khuẩu g gối hay cái đầu của đứa trẻ khi nó cọ quậy.

Tháng thứ 6, thai nhí đài 30cm, nặng 700g. Đôi mắt đã hoàn

chỉnh day đủ, mí mắt đã có thể mở ra. Hệ thống xương phát triển nhanh, tóc trên đầu tiếp tục mọc, thai nhỉ bắt đầu ưỡn thẳng ra và đến lúc này các cơ quan nội tạng có thể có được vị trí thích hợp.

Một sự kiện được đặc biệt chú ý từ tháng 4 đến tháng 6 là bộ não

phát triển. Sự phát triển của não bộ góp phẩn điều chỉnh các chức năng khác của cơ thể như thở, ngủ và thao thức. |

Vào cuối tháng thứ 6 thai nhi khoé manh dat được tudi cé kha năng sống. Tức là bây giờ thai nhi có được 50% cơ hội sống sót ở ngoài cơ thể người mẹ trong điểu kiện duy trì tích cực và chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, trẻ em đẻ non thường có những chênh lệch đáng

kể về sự phát triển so với những trẻ sinh đủ tháng. :

_ Có thể nói rằng trong 3 tháng đẩu diễn ra sự hình thành các cơ cấu thân thể chủ yếu, ba tháng thứ hai - là thời gian hoàn chỉnh các cơ quan của thai nhỉ, nhất là não bộ tới mức độ cẩn thiết cho sự sống, còn trong suốt 3 tháng thứ ba nhiều cơ cấu khác nhau của não bộ và tất cả các hệ thống cơ thé trưởng thành dần, chuẩn bị hoạt động, và biển thai nhi yếu ớt trở thành đứa trẻ có khả á năng thích nghi tích cực với môi trường sông.

Tháng thứ 7, thai nhi nặng gần 1 ke, hé than kinh của nó phát triển đến mức có thể điểu khiển được hơi thở và nuốt. Đổng thời não bộ phát triển một cách nhanh chóng, các mô của não bộ tạo thành các trung khu của tất cả các trung tâm cảm giác và vận động.

Thai nhỉ đã cảm thấy có sự tiếp xúc và đau; bộ máy tiến đình của nó bắt đầu làm việc.

- Người ta thường nêu câu hỏi liệu thai nhỉ có thể nghe â âm thanh?

Câu trả lời là “có”. Trên thực tế thai nhỉ vẫn thường xuyên nằm trong môi trường có nhiều âm thanh hỗn loạn khác nhau (những âm thanh vang lên do người mẹ ăn uống, do hơi thở, nhịp rung động của máu trong hệ tuần hoàn), nên đã quen với sự ổn ào trong dạ con. Ngoài ra, từ lâu người ta đã nhận ra rằng thai nhỉ có thể cảm nhận những âm thanh hay giọng nói phát ra bên ngoài cơ thể mẹ. Ví dụ, trẻ thường rùng mình do âm thanh rất lớn phát ra bên cạnh người mẹ hoặc thường nằm yên khi người mẹ bật những điệu nhạc du dương.

Còn về sự phát triển của các giác quan thì ngay ở 15 tuần tuổi thai nhi đã có thể có những động thái nắm bắt, nhăn nhó, chớp mắt.

Những vận động phản xạ xẩy ra thường do có sự kích thích lòng bàn chân và mí mắt. Vào tuẩn lễ thứ 20 các cơ quan vị giác và khứu giác phát triển. Vào tuần lễ thứ 24, cảm giác da hoàn toàn phát triển, phản xạ âm thanh hoàn toàn ổn định vào tuần lễ thứ 25. Tuần lễ 27 thai nhi đôi khi quay đầu ra phía ánh sáng hướng về phía bụng người mẹ.

Tất cả các dạng cử chỉ, các chuyển động biểu cảm, đạp, xoay người và ngọ ngoạy đầu đều xuất hiện vào cuối tháng thứ 7. Đó là những vận động tự do của thai nhi nhằm có được một vị thế thuận tiện trong bụng mẹ.

Vào tháng thứ 8, hang tuan thai nhi tang thêm 200 gam, và co thể thai nhỉ đã bắt đầu sẵn sàng với cuộc sống bên ngoài. Dưới da

hình thành lớp mỡ để bảo vệ khỏi những chênh lệch nhiệt độ khi đứa

trẻ ra đời. Mặc dù tỷ lệ sống của trẻ sinh ra sau 8 tháng mang thai dat tới 90%, song vẫn có rủi r0. Những trẻ SƠ sinh này thường gặp phải.

vấn để hô hấp; mức giảm cân ban đầu có thể nhiều hơn so với trẻ sinh ra bình thường, lớp mỡ dưới đa còn chưa hoàn chỉnh cho nên việc điều chỉnh thân nhiệt dễ có vấn để. Vì vậy, những đứa trẻ sinh ra vào thời kỳ này thường được đưa vào các “lổng kính” chuyên dụng và bảo đảm cho chúng một sự chăm sóc như những đứa trẻ sinh ra sau 7 thang mang thai. SỐ

Vào tháng thứ 8, sự nhạy cảm của đứa trẻ và các hành vị của nó

phát triển đáng kể. Người ta cho rằng vào giữa thời kỳ này đứa trẻ

đã có thể mở được mắt và nhìn thấy tay mình, thấy không gian xung quanh mặc dù trong bụng mẹ tối. Có thể từ tuẩn lễ thứ 32 thai nhỉ bắt đầu nhận biết những điều điễn ra bởi vì nhiều hệ thống noron não: _ - bộ vào thời gian đó đã hình thành. -

Sang tháng thứ 9, ở thai nhỉ xác lập các chu kỳ ngủ và thức trong ngày đêm và người ta cho rằng sự phát triển thính giác đang được hoàn thiện. Trong tháng thứ 9 thai nhỉ tiếp tục phát triển và quay đầu

xuống dưới để thoát ra khi đẻ. Các kháng thể từ người mẹ được truyền sang để bảo vệ thai nhỉ tránh bị bệnh và duy trì hệ thống miễn dịch riêng của thai nhỉ. Cùng với sự dịch chuyển dạ con xuống phía đưới, trong 1 - 2 tuẩn lễ trước khi sinh nở, thai nhi sẽ tụt xuống “vị trí xuất phát” tới khung chậu, tốc độ tăng trọng tượng ở thai nhỉ giảm. Tất cả sẵn sàng cho sự ra đời của đứa trẻ.

1.2. Các xu hướng phát triển "

Trong thời kỳ bào thai (và cả trong thời niên thiếu) sự phát triển

thể chất và cơ bắp diễn ra một cách liên tục, theo ba hướng chủ yếu

(cẩn lưu ý rằng, đó chỉ là những xu hướng, chứ không phải là các quy luật hoặc các nguyên tắc).

_ Thứ nhất, đó là sự phát triển diễn ra theo hướng từ đẩu đến chân.

Trong suốt thời kỳ bào thai đầu thai nhỉ trông rất to so với phần còn

lại của than thé, dan dần các kích thước nay sẽ cân đối hơn. Xu hướng này biểu hiện rõ trong sự phát triển phối hợp các vận động và

các kỹ răng thể lực ở trẻ nhỏ: trước hết chúng học điểu khiển mắt,

đầu, sau đó đến tay, cổ tay và cuối cùng mới đến chân..

Thứ hai, sự phát triển diễn ra theo hướng từ trung tâm đến ngoại biên. Trẻ nhỏ thường học với lấy các đồ vật, nắm chúng vào lòng bàn tay sớm hơn so với việc nhặt, nhón bằng ngón cái và ngón trỏ.

Thứ ba, sự phát triển diễn ra theo hướng fừ tổng thể đến chuyên sâu. Lúc đầu thai nhỉ ghi nhận bất ky chuyển động chung không có tính đặc thù nào. Sau khi sinh, các phản ứng của đứa trẻ trở nền phân

biệt hơn đối với các dạng kích thích khác nhau, nhưng vấn là phản

ứng đổng thời của nhiều bộ phận trén co thé. Dan dan, phản ứng của trẻ trở nên chuyên môn hoá hơn.

Có thể thấy rõ xu hướng này khi quan sát những đứa trẻ học viết. Đầu tiên, chúng vẫn còn phải thực hiện các động tác tổng thể, _ phải sử dung nhiều bộ phận cơ thể như mấp máy môi, đọc to, cử động cánh tay, cổ tay, thậm chí vẹo cả người mới viết được. Chỉ sau một thời gian nhất định trẻ mới tổ chức được kỹ năng viết chỉ với cử động của các ngón tay, cổ tay và di chuyển tay.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 69 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)