Tự đánh giá và các mối quan hệ giao tiếp

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 165 - 178)

SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ MẪU GIÁO

3. Tự đánh giá và các mối quan hệ giao tiếp

Trẻ em đã bước vào hoạt động xã hội chính thức là hoạt động học tập, kết quả học tập được thầy cô, cha mẹ, và những người thân hết sức quan tâm. Vì vậy ở giai đoạn này kết quả học tập, đánh giá của thẩy cô có ảnh hưởng trực tiếp tới tình cảm, động cơ, tự đánh giá của trẻ. Trẻ định hướng theo đánh giá của thẩy cô và tự xếp mình và các bạn vào nhóm giỏi, khá hay trung bình. Những trẻ thường xuyên được khen, được điểm cao thường có tự đánh giá cao. Những trẻ hay

bị điểm kém, thường xuyên bị cô phê bình, chỉ trích thường có tự

đánh giá thấp, dẫn đến không tự tin vào bản thân.

Tự đánh giá cao có nghĩa là về cơ bản trẻ hài lòng với mình và thường cảm thấy rằng mình nắm vững các kỹ năng xã hội và các kỹ năng khác. Tự đánh giá thấp là thường không hài lòng với bản thân

và tự cảm thấy mình không có kinh nghiệm và không có đẩy đủ giá

trị Nói cách khác, tự đánh giá cao là khi trẻ có cái nhìn tích cực về bản thân, ngược lại, tự đánh giá thấp là khi trẻ có cái nhìn tiêu cực về bản thân.

E. Erikson coi “sự tự tin vào khả năng của bản thân” là cấu trúc tâm lý quan trọng nhất của trẻ em lứa tuổi này, đảm bảo cho sự hình

thành và phát triển nhân cách toàn vẹn của các em. Hoạt động học

tập là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi này, vì vậy nếu trẻ không cảm thấy mình có khả năng trong lĩnh vực này thì tự đánh giá của trẻ có xu hướng tiêu cực. Những trẻ em có mức độ tự đánh giá

thấp thường có mặc cảm mình kém cỏi và thậm chí tin rằng mình

không thể khá lên được.

Trên thực tế, bất kỳ đứa trẻ bình thường nào cũng có khả năng học. Vì vậy, nhiệm - vụ của giáo dục là phát triển tối đa sự tự tin của

Các em, phát triển cách nhìn nhận tích cực vé ban thân ở học sinh.

Tự đánh giá có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tiếp theo của học sinh. Những em có tự đánh giá cao thường tỉn vào sự thành

công của bản thân và vì vậy, thường nỗ lực phấn đấu nhiều hơn để đạt thành tích cao trong học tập. Những em có tự đánh giá thấp không muốn cố gắng vì cho rằng mình kém cỏi, không thể giỏi như các bạn được.

Để phát triển “niểm tin vào bản thân” ở học sinh nhỏ tuổi, cẩn phải xây dựng trong lớp một bầu không khí tâm lý an toàn, thoải mái, làm sao để trẻ luôn cảm thấy được khích lệ, không sợ hãi mỗi khi điểm kém. Thầy cô giáo giỏi không chi đơn thuần là người chấm điểm cho học sinh, mà còn giải thích tại sao cho điểm như thế. Điều quan trọng là thầy cô cẩn tỏ rõ sự tin tưởng vào mỗi học sinh, làm cho các em tin rằng các em có thể đạt kết quả tốt hơn trong học tập.

Thầy cô cần xây dựng cho mỗi học sinh một phông, nến tình cảm tích cực (dương tính), ngay cả khi học sinh đó nhận được điểm kém.

Thầy cô chỉ nên cho điểm bài làm cụ thể, chứ không nên đánh giá nhân cách trẻ, và không so sánh các học sinh với nhau, không kêu gọi

bắt chước các học sinh giỏi, mà hướng cho mỗi học sinh đạt tới thành

tựu riêng của mình. Thầy cô cần kịp thời động viên, khích lệ từng sự tiến bộ (dù nhỏ) trong học tập của các học sinh, đặc biệt là những em đạt kết quả chưa cao, để hôm sau tốt hơn hôm trước một ít.

Sự hình thành và phát triển “tự đánh giá” của trẻ 6 - 11 tuổi phụ thuộc không chỉ vào kết quả học tập mà còn phụ thuộc vào những đặc điểm giao tiếp với cha mẹ, thầy cô và bè bạn ở lớp.

Phong cách giáo dục của cha mẹ, những giá trị được coi trọng trong gia đình và trong giáo dục con cái cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành tự đánh giá của trẻ em. Những em được giáo duc theo kiéu 1a trung tâm của sự chú ý, luôn được nuông chiều, tán

dương mà hầu như không bị phê bình có thể có tự đánh giá cao nhưng dễ trở nên ngạo mạn, ích kỷ, coi thường người khác.

Nếu trẻ luôn bị mắng mỏ, chê bai, bị coi là không được tích sự gì, hoặc trẻ không được quan tâm, bị bỏ mặc thì thường có tự đánh giá thấp. Những đứa trẻ trong các gia đình có cha mẹ không quan tâm đến nhau và không quan tâm đến con, không quan tâm đên học hành và cảm xúc, suy nghĩ của con, cũng hay có tự đánh giá thấp.

Nếu người lớn luôn quan tâm tới nhân cách trẻ em, đến sở thích, nhu cẩu, quan hệ của con với ban bè; kết hợp yêu cầu cao với tình yêu và sự tôn trọng con; không chê quá những nhược điểm của trẻ mà cũng không khen quá những gì trẻ đạt được; thì trẻ em thường tự

tin, có tự đánh giá cao và biết tôn trọng người khác.

Những giá trị được coi trọng trong gia đình, những câu chuyện, quan niệm của bố mẹ thể hiện qua các câu chuyện gia đình, các câu hỏi đối với con, nhự: “Hôm nay con được may diém?”, “Ban nao học giỏi nhất lớp con?”, “Sao bạn được 10 điểm mà con chỉ được có 8 điểm?...”, hay: “Ở lớp con ăn hết không?, có xin bát nữa không?”,

“Ở lớp con có vui không? Con chơi thân với bạn nào nhất?”... đểu ảnh hưởng đến quá trình hình thành định hướng giá trị của con trẻ. .

Nếu cha mẹ không quan tâm gì đến việc ở trường của con. Thuê người đi đón con, vể nhà lúc con đã chuẩn bị đi ngủ hoặc thỉnh

thoảng mới hỏi một câu “Ở trường thế nào?” và thậm chí hỏi để đấy,

không chăm chú nghe câu trả lời của trẻ. Khi đó, trẻ thường trả lời cho qua chuyện: “Dạ, bình thường a”.

Trẻ em rất nhạy cảm, chúng biết ngay cha mẹ quan tâm tới chúng như thế nào và cha mẹ quan tâm tới điểu gì nhất.

Như vậy gia đình và trường học là những yếu tố chính ảnh hưởng tới sự phát triển tự đánh giá của học sinh tiểu học. Tư duy và các quá trình nhận thức có chủ định phát triển tạo cho trẻ khả năng tự đánh giá bản thân thích hợp hơn. Theo các nghiên cứu thì hầu hết trẻ mới bước vào hoạt động học tập ở trường học thường có tự đánh

giá cao. Tiếp theo, mức độ tự đánh giá cuả trẻ có xu hướng thấp dan.

Đến cuối tiểu học, trẻ tự phê phán mình nhiều hơn, đánh giá bản thân một cách khách quan hơn. Tuy nhiên, trẻ thường đánh giá bản thân qua quá trình và kết quả học tập cụ thể, chứ chưa có khả năng nhìn nhận, đánh giá các tiểm năng khác của mình. Những trẻ tự đánh giá mình quá cao hoặc quá thấp thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc điểu chỉnh sự tự đánh giá của bản thân.

3.2. Các mối quan hệ giao tiếp Giao tiễp uới người lớn

Mối quan hệ của trẻ ới thẩy cô giáo trở thành mối quan hệ xã hội chính thức giữa hai chủ thể của hoạt động dạy và học, chứ không còn là mối quan hệ thân tình cô - cháu như hổi mẫu giáo nữa. Thẩy cô

giáo đại diện cho nhà trường chịu trách nhiệm về việc dạy học, nhắc

nhở, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em. Thầy cô giáo cũng có trách nhiệm tôn trọng, động viên, khuyến khích các em say mê học tập. Những thầy cô giáo là những nhà sư phạm giỏi thường được các em học sinh tiểu học hết sức ngưỡng mộ và coi thầy cô như thần tượng của mình. Các em muốn bắt chước và noi theo các hành : vi ứng xử của thầy cô, thi dua học tập, cảm thấy tự hào mỗi lẩn được cô khen, phấn khởi khi được cô tín nhiệm giao cho công việc gì đó của lớp. Tuy nhiên, bên cạnh những thầy cô giáo rất tuyệt vời vẫn còn những thầy cô giáo có những lời nói và hành vi không tôn trọng các em, hà khắc, độc đoán, không công bằng hoặc không làm tròn trách nhiệm, gây ra ở các em học sinh tiểu học cảm xúc bối rối, lo âu, sợ hãi, chán học. Một số em thậm chí còn không muốn đến trường học nữa.

Tinh chất mối quan hệ của trẻ uới cha rr£ cũng mang sắc thái khác so với thời mẫu giáo. Cha mẹ quan tâm đến hoạt động học tập ở trường của các em và ứng xử với các em như với một thành viên chính thức của xã hội. Các em biết rằng cha mẹ cũng phải tuân theo những yêu cầu của cô giáo, nên rất hãnh điện tuyên bố với cha mẹ những việc cần làm, những đồ dùng học tập cần mua. Nội dung giao tiếp giữa cha mẹ - con cái thời kỳ này tập trung nhiều nhất vào những vấn để liên quan đến hoạt động học tập, kết quả học tập, thầy

cô giáo, bạn bè, trường học. Tuy nhiên, cha mẹ và con cái vẫn dành

thời gian cho những hoạt động khác như đi chơi ngày cuối tuần, đi

học vẽ, học võ, thăm họ hàng.

Ở tuổi này, cha mẹ cẩn tỉnh tế hơn trong việc phê bình hay chỉ bảo cho trẻ. Cha mẹ nên để trẻ tự chủ hơn, song sự giám sát của cha me van có vai trò quan trong. Cha me can biết bây giờ trẻ đang ở

đầu, nó đang làm gì, những gì nó đang làm có phù hợp với nhiệm vụ

và lứa tuổi nó không. Các nghiên cứu cho thấy rằng những đứa trẻ

được cha mẹ quan tâm thường có tự đánh giá cao hon s so với những đứa trẻ ít được quan tâm.

Các nhà tâm lý học cho rằng điểu mà các bậc cha mẹ nên làm nhất để giúp phát triển trí tuệ và nhân cách của con mình là giúp các em ngày càng tự chủ hơn. Để làm được điều đó, cha mẹ cẩn: _.

+ Sẵn sàng ủng hộ trẻ về tinh thần:Quan tâm đến cuộc sống của

con cái, cổ vũ và khích lệ các nỗ lực của chúng. Luôn nhiệt tình ủng

hộ và đóng vai trò “cố vấn” cho trẻ. Biết chấp nhận sai lầm của trẻ và

luôn làm chỗ dựa để chúng có cơ hội khắc phục sai lầm.

+ Tạo cơ hội để trẻ khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh:

Ngoài giờ học, cần cho trẻ tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, đi

du lịch giúp trẻ mở mang kiến thức. |

+ Thường xuyên trò chuyện với trẻ chứ không nên chỉ nói cho trẻ nghe, hãy đặt các câu hỏi rồi lắng nghe trẻ đáp lại, tạo cơ hội phan

hổi xa hơn. | | "

+ Không ép trẻ quá mức: Mặc dù các điểu kiện của cuộc sống hiện tại ngày càng khắc nghiệt và các nhu cầu ngày càng cấp bách, thời thơ ấu vẫn phải là khoảng thời gian hạnh phúc chứ không nên chỉ xem đó là giai đoạn chuẩn bị cho tuổi trưởng thành,

- Một số nhà tâm lý cho rằng chúng ta đang tạo ra xã hội gồm

“các đứa trẻ tất bật”, cuộc sống của chúng chỉ quanh quẩn ở các thời khóa biểu khô khan và bản thân chúng bị ép buộc thành công đến mức thời thơ ấu của chúng đẩy rẫy căng thẳng.

Giao Hếp uới bạn bè .

_ Giao tiếp với bạn bè bắt đầu đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống tinh thần của trẻ. Nhìn chung, giao tiếp với bạn học của trẻ em tuổi tiểu học hồn nhiên, chân thành. Nội dung giao tiếp chủ yếu xoay quanh hoạt động học tập, vưi chơi, sinh hoạt.

Bên cạnh sự gắn bó với người thân trong gia đình, tình bạn với

ai đó trong số các bạn cùng tuổi đã bắt đẩu nảy nở. Các em thường

chơi với bạn cùng lớp học và cùng giới nhiều hơn. Sự phân biệt giới trong giao tiếp bạn bè ngày càng rõ rệt ở những năm cuối tuổi tiểu học. Đôi khi trong lớp, các em nữ và các em nam chơi thành hội và tẩy

chay những bạn khác giới muốn gia nhập hội của mình. Khi nói

chuyện với nhau nhiều em còn dùng những lời lẽ không mấy tôn trọng đối với các bạn khác giới. Tuy nhiên, đằng sau những hành vi tỏ vẻ bất cần đó vẫn ẩn giấu sự tò mò, quan tâm đến bạn khác giới (sự tò mò giới tính). Ở các em cuối tuổi tiểu học bắt đầu có những tình cảm

đối với một bạn khác giới nào đó nhiều hơn so với các bạn khác.

Trẻ bắt đầu phải học cách giải quyết các tình huống phức tạp

trong các mối quan hệ bạn bè (ví dụ, mối quan hệ bạn cũ - bạn mới) và phân biệt phải - trái dựa theo các chuẩn mực xã hội và các quy tắc đạo đức. „

Ở giai đoạn này, trẻ khắc phục dẩn dần tính vị kỷ (tự cho mình là trung tâm). Các em bắt đầu có khả năng nhận biết ý nghĩ và cảm nhận của những người khác, dự đoán người khác có cảm xúc gì, nghĩ gì và dự định sẽ làm gì. Một đứa trẻ 10 - 11 tuổi đã có thể nói với bạn

“Thằng Huy đang giận tớ. Tớ biết thừa nó đang giận tớ vì điểu gì rổi”.

Trẻ bắt đầu hiểu các quy tắc của tình bạn như lòng trung thành và sự tin cậy. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp trẻ hiểu các nguyên tắc này một cách máy móc và sử dụng chúng một cách cứng nhắc (ví dụ, khi nhìn thấy bạn của mình chơi với người mà trẻ không thích thì trẻ cho đó là sự phản bội).

Nhóm bạn cùng tuổi

Trẻ cuối tuổi tiểu học bắt đầu tham gia vào các nhóm bạn. Nếu nhìn bể ngoài, nhóm bạn đơn giản chỉ là một tập hợp những đứa trẻ hay chơi với nhau. Trên thực tế, đó là một nhóm tương đối ổn định và cũng có những quy ước riêng. Thành viên của nhóm thường cùng chơi và chia sẻ những giá trị chung. Không phải ai cũng được gia

nhập nhóm.

_Những đứa trẻ nhiệt tình, tích cực tham gia vào các công việc chung, có khả năng hợp tác thường được quý mên. Ngược lại, những đứa trẻ kém hiểu biết về xã hội, hay gây gổ quá mức hoặc nhút nhát

qua thường không được các bạn ưa. Chẳng ai thích kẻ hay gây gổ, còn những trẻ nhút nhát thì lại quá yếu đuổi và thụ động.

Kết quả trong học tập và thành tích trong thể thao có thể đem lại uy tín trong nhóm các bạn cùng tuổi. Những học sinh học kém thường là đối tượng của sự chế giễu.

Vị trí của trẻ ở trong nhóm có ảnh hưởng đến tự cảm giác

của nó. Những đứa trẻ không được “thu nhận” thường có cảm thấy đơn độc. Những trẻ có “uy tín” trong nhóm thường cảm nhận mình là người có giá trị.

Đến cuối giai đoạn này, ở ngưỡng cửa của tuổi thiếu niên, trẻ bắt đầu có nhu cầu mạnh mẽ được ở trong một nhóm nào đó. Nhu cẩu này tổn tại cùng với những nhu cầu mạnh mẽ về tự chủ và am hiểu thế giới xung quanh.

Mặc dù nhóm bạn mới bắt dẩu hình thành ở tuổi thiếu nhị, nhưng nó có ảnh hưởng lớn đến trẻ. Bên cạnh những ảnh hưởng tốt,

nhóm bạn cũng có thể có những ảnh hưởng tiêu cực. Đa số các em vẫn còn có những nhận thức và hành vi sai lệch. Ví dụ, không chấp

nhận những ai có điểu gì đó khác với mình. Một số nhóm trẻ hư thậm chí còn có những giá trị đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức xã hội, như bắt nạt, chấn lột tiển của các bạn yếu hơn. Vì vậy, cha mẹ

cần thường xuyên tâm sự để biết các bạn trong nhóm của con mình, quan điểm và giá trị của chúng để kịp thời uốn nắn những xu hướng không lành mạnh.

4. Sự tiếp thu những chuẩn mực đạo đức xã hội

Trẻ 6 — 11 tuổi đã bắt đầu làm chủ những hành vi của mình, tuân

thủ những quy định chung của trường lớp. Khả năng nhận thức phát

triển giúp trẻ hiểu rõ hơn về những chuẩn mực đạo đức xã hội. Trẻ hiểu hành vi nào là tốt, hành vi nào là xấu. Cha mẹ va thẩy cô thường là những người rất có uy tín đối với trẻ. Tất cả những quy tắc, chuẩn

mực do cha mẹ và thẩy cô đưa ra đều được trẻ chấp nhận, không hể

nghỉ ngờ hay phản ứng ngầm như ở lứa tuổi lớn hơn.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 165 - 178)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)