Những quan điểm về động lực của sự phát triển tâm lý

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 25 - 30)

CAC QUAN DIEM VA CAC LY THUYET

1. Những quan điểm về động lực của sự phát triển tâm lý

Những người theo quan điểm nguồn gốc sinh học coi những đặc điểm bẩm sinh di truyển có sẵn của trẻ em là nguổn gốc và động lực của sự phát triển tâm lý cá thể.

Triết gia người Phap J. Rousseau q7 12- 1778) cho rằng con người

sinh ra đã có sẵn tất cả các đặc tính để hình thành nên con người họ.

Những thứ mà chúng ta có khi sinh ra là những thứ tác động chủ yêu đến sự phát triển của chúng ta (Dẫn theo Feldman R.. 2004).

Xuất phát từ học thuyết tiến hóa của Darwin (1809 - 1882) năm 1858, nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm cho rằng: Sự phát triển của trẻ em là do những yếu tố di truyển đã được ghi sẵn trong phôi của bào thai quy định. Phát triển chẳng qua là sự bộc lộ dần dần những thuộc tính ay.

Năm 1874, E. Heackel (834 ơ 1919), đó đưa ra quan điểm, theo đó, sự phát triển của bào thai chính là sự lặp lại cô đọng của quá trình tiễn hóa từ một thực thể đơn bào tới con người.. -

Một số tác giả khác cũng cố gắng chứng minh rằng quá trình phát triển của đứa trẻ tái tạo lại tất cả những giai đoạn cơ bản của lịch sử loài người. Ví dụ, trẻ em thường thức dậy mỗi đêm, khóc sợ hãi, sau đó mãi mới ngủ lại được là đứa trẻ đang ở giai đoạn tương ứng với thời kỳ mông muội (giai đoạn săn bắn), khi con người còn ngủ một mình trong rừng và luôn bị rình rập bởi vô số những nguy hiểm; Những tháng đầu đời của đứa trẻ tương ứng với thời kỳ động

vật có vú; Nửa thứ hai của năm đầu, trẻ đạt đến thời kỳ động vật bậc

cao là khi, khi đã phát triển các kỹ năng nắm, với và bắt chước; Tiếp theo, khi biết đi, có dáng đi thẳng đứng và biết nói, trẻ đạt đến

những nấc đầu tiên của sự phát triển loài người; Năm năm tiếp theo

của trò chơi và chuyện cổ tích, trẻ nằm ở giai đoạn người nguyên thủy; Khi bước vào trường học với những trách nhiệm và quy tắc xã hội nhất định, đó là trẻ đã bước vào giai đoạn xã hội có tổ chức;

Những năm đầu tiên trong trường học tươrig đương với những nội dung đơn giản của thế giới cổ đại; Những năm học tiếp theo mang những nét của thời trung cổ; Lứa tuổi dậy thì có thể so sánh với thời kỳ khai sáng; Và chỉ khi trưởng thành, con người mới đạt đến sự phát triển của thời hiện đại.

- Sự phát triển tranh vẽ trẻ em, theo các tác giả, cũng phản ánh các giai đoạn phát triển nghệ thuật hội họa trong lịch sử loài người (Dẫn theo Obukhova L.F., 2003).

Xu hướng xem xét các giai đoạn phát triển trẻ em tương tự với các giai đoạn phát triển thế giới động vật hay với quá trình phát triển văn hóa loài người cho thấy mong muốn mạnh mẽ của các nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm những quy luật chung giữa sự phát triển cá thể và sự tiên hóa về phương diện loài.

Có thể nói, quan điểm nguồn gốc sinh học là cơ sở của giáo dục tự phát, giáo dục tự do. Một thời gian dài, quan điểm này là chỗ dựa cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp, coi thường, khinh rẻ những người lao động nghèo, dẫn đến sự lý giải phản khoa học về cái gọi là “dân tộc thượng đẳng”, “dân tộc hạ dang”.

Tuy nhiên, đây cũng là những tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người. Lần đầu tiên E. Heackel và nhiều tác giả

khác đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa sự phát triển cá nhân và

sự phát triển loài người. Quan điểm nguồn gốc sinh học đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiêm những giải thích khác về sự phát triển cá thể người. Có thể nói, nếu không có sự ra đời của thuyết nguồn gốc sinh học, thì cũng không xuất hiện những học thuyết khác về sự phát triển cá thể con người.

1.2. Quan điểm nguồn gốc xã hội

Quan điểm này cho rằng, trẻ em là tổn tại thụ động, chịu sự tác động và chi phối của môi trường xung quanh.

Theo triết gia nổi tiếng người Anh J. Locke (1632 - 1704), đứa trẻ sinh ra giống như một tờ giấy trắng, không có kiến thức hay bất kỳ kỹ năng nào; tất cả những kinh nghiệm mà con người có được là nhờ được nuôi dưỡng và giáo dục bởi người khác và bởi xã hội. Nói khác đi, ông tin rằng môi trường xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với tiến trình phát triển đời người, nó quy định chúng ta sẽ trở thành ai

(Dẫn theo Feldman R., 2004). |

Nhà tâm lý học My J. Watson (1878 — 1958), ngwoi sang lap trường phái Tâm lý học hành vi, cũng đã từng phát biểu trong cuốn Thuyét hành 0i: Hãy cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh, phát triển bình thường và thế giới của riêng tôi, trong đó tôi có thể chăm sóc chúng. Tôi cam đoan rằng tôi có thể huấn luyện một đứa trẻ bất kỳ thành chuyên gia

trong bất cứ lĩnh vực nào - một bác sĩ, một luật sư, một thương gia,

thậm chí là một kẻ ăn mày hay một tên trộm cắp — không phụ thuộc vào tư chất và năng lực của đứa trẻ, vào nghề nghiệp và chủng tộc của

cha ông nó (Dẫn theo Phan Trọng Ngọ, 2003).

Không thể phủ nhận ảnh hưởng của môi trường xung quanh đối với sự phát triển tâm lý con người. Tuy nhiên, thực tiễn xã hội cũng cho thấy trong những điểu kiện, hoàn cảnh xã hội tương tự như nhau lại hình thành nên những nhân cách hoàn toàn khác nhau. Ngược lại, trong những điểu kiện, hoàn cảnh xã hội khác nhau lại hình thành những nhân cách có nhiều nét trong đồng về thế giới nội tâm, phong

thái hành vi, thiên hướng.

Rõ ràng là quan điểm nguồn gốc xã hội cũng không làm thỏa mãn các nhà nghiên cứu, nó không giải thích được thực tiễn sống động của sự phát triển tâm lý con người. Nó cũng phủ nhận tính tích cực của con người, đổ mọi tội lỗi cho môi trường (giống như thuyết

nguồn gốc sinh vật đã đổ mọi tội lỗi cho di truyển, bẩm sinh).

1.3. Quan điểm hội tụ hai yeu to

Những cuộc tranh luận dữ đội giữa các nhà tâm lý học về việc cái gì quyết định sự phát triển cá thể người, các yếu tố đi truyền, bẩm sinh hay môi trường, đã dẫn đến sự xuất hiện một loạt những nghiên cứu mới. Phần lớn các nhà tâm lý học đểu tán thành rằng cả hai yếu

tố đi truyển, bẩm sinh và môi trường luôn tương tác lần nhau để hình thành các kiểu phát triển của các cá nhân khác nhau.

Di truyển là sự truyển lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc tính của mình theo cơ chế mã hóa và giải mã các gien. Bẩm sinh là những đặc tính của cá thể có ngay từ khi mới sinh và tổn tại tương đối ổn định trong suốt cuộc đời của cá thể đó. Bam sinh chủ yếu do đi truyển quy định, nhưng cũng nhiều đặc tính di truyển bị thay đổi (do tác động của ngoại cảnh khi người mẹ mang thai) dẫn đến các dị tật của trẻ em khi sinh.

Câu hỏi yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển chuyển thành câu hỏi các yếu tố hoàn cảnh môi trường và di truyền bẩm sinh cùng tác động z4 sao và ảnh hưởng tới mức nào.

Người ta đã tìm thấy những đứa trẻ hoang đã sông một mình hoặc sống với bầy sói, bẩy vượn trong các khu rừng ở nhiều nơi trên thế giới. Những đứa trẻ này không nói và không hể có những hành vi chuẩn mực xã hội, chỉ có phẩn tự nhiên là cơ thể người và hoàn toàn hoang dại. Điểu này chứng tỏ môi trường hoang dã đã ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của đứa trẻ.

Sau khi đưa những đứa trẻ này về với môi trường xã hội loài người, các nhà khoa học đã cố gắng khai hóa và dạy dỗ, nhưng những đứa trẻ vẫn không thể nói và cư xử giống như một người bình thường. Điểu này chứng tỏ rằng, môi trường xã hội mới không thể

chiến thắng được tính hoang dại tự nhiên đã được định hình ở đứa trẻ (David R.S., 2002).

Cuộc tranh luận về van để yếu tố nào quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em, đi truyền hay môi trường, vẫn chưa chấm đứt cho đến ngày nay, chỉ có điểu bây giờ chúng chuyển sang lĩnh vực thực nghiệm. Ví dụ, các tác giả đánh giá tác động của di truyền và môi trường đổi với sự phát triển tâm lý bằng phương pháp nghiên cứu các cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng.

Nghiên cứu trẻ sinh đôi cùng trứng cho thấy: trẻ sinh đôi có sự tương đồng về năng lực trí tuệ cao hơn so với những trẻ sinh đôi khác trứng, và dường như trí tuệ có thành tố di truyền rất mạnh.

Nghiên cứu hành vi chống đối xã hội cũng cho thấy hành vi này chịu ảnh hưởng khá nhiều của di truyền. Ngoài ra, nghiên cứu trẻ sinh đôi cùng trứng còn cho thấy một số các nét nhân cách cũng có tinh di truyền như: cảm xúc, mức độ tích cực và tính giao lưu xã hội (Plomin, 1990). Có tác giả cho rằng, gien đóng 40% vào sự hình thành

các đặc điểm nhân cách (Bouchard, 1994), một số khác lại khẳng định

con số này là khoảng 20% đến 50%. |

1.4. Quan điểm hoạt động tích cực của cá nhân

Mặc dù các công trình nghiên cứu trẻ sinh đôi cung cấp cho chúng ta các dữ liệu về sự ảnh hưởng của di truyền và môi trường tới việc hình thành trí tuệ, tính cách, kiểu nhân cách, nhưng các đữ liệu ấy không thể nói cho chúng ta biết các gien tác động qua lại với môi

trường như thế nào.

Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu theo quan điểm hội tụ hai yếu tố thường mặc định rằng, trẻ ở cùng nhau trong một gia đình, hay học cùng trường, là có cùng một môi trường xã hội. Nhưng thực chất, như các nhà tâm lý học hoạt động phân tích, không bao giờ có thể tổn tại những môi trường xã hội như nhau đối với bất kỳ hai trẻ em khác nhau nào, kể cả khi hai trẻ đó sống trong cùng một gia đình.

Nhà tâm lý học trẻ em người Nga Ð.B. Enconhin nhấn mạnh:

Mỗi trẻ ở vào một hoàn cảnh có một không hai cho riêng mình nó.

Khâu trung tâm ở đây không phải là môi trường mà là quan hệ tương tác của đứa trẻ với những yếu tố nhất định của môi trường ay.

Nghĩa là mỗi đứa trẻ có một môi trường phát triển của riêng mình trong môi trường chung rộng lớn. Chỉ có những yếu tố nào của môi trường mà trẻ tích cực quan hệ, tích cực tác động qua lại với chúng mới tạo thành các điều kiện cụ thể có ảnh hưởng đến sự phát triển cua tré (Enconhin D.B., 2004).

Bên cạnh đó, những người xung quanh lại thường có những phản ứng khác nhau với những đứa trẻ khác nhau, ví dụ, người lớn thường khen ngợi và hay “giao việc” cho những trẻ vui vẻ và tích cực hoạt động, ngược lại, họ hay quát mắng những đứa trẻ hay cáu giận,

không giao việc cho những trẻ lóng ngóng và thụ động. Như vậy, đặc điểm cá nhân của trẻ ảnh hưởng rất lớn tới môi trường sống của nó (Kagan, 1993). Vì thế, có thể nói, trẻ đã tham gia vào việc hình thành môi trường xã hội quanh mình thông qua chính đặc điểm nhân cách và tính tích cực hoạt động của mình.

Quan điểm hoạt động tích cực của cá nhân góp phần làm sáng rõ hơn động lực của sự phát triển tâm lý.

Hiện nay, phần lớn các nhà khoa học đểu thừa nhận rằng, yếu tố sinh học đóng vai trò là tiền để của sự phát triển; môi trường văn hóa xã hội là nguổn gốc của sự phát triển; giáo dục có vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển; tính tích cực hoạt động và giao tiếp của cá

nhân có vai trò quyết định đối với sự phát triển tâm lý con người.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 25 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)