CAC QUAN DIEM VA CAC LY THUYET
2.5. Thuyết uăn hóa lịch sử của L.X. Vusôtxki
Nhà tâm lý học vĩ đại người Nga L.X. Vưgôtxki (1896 - 1934) đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa; nghệ thuật; tâm lý; giáo dục. Cỏch tiếp cận ứăn húa - xó hội - lịch sử của ụng được đỏnh giỏ cao và là nển tảng lý luận cho sự ra đời của trường phái Tâm lý học hoạt động. Quan niệm của Vưgôtxki về sự phát triển nhận thức được thể hiện qua một số nhận định cơ bản sau:
Vai trò của 0ăn hóa trong phát triển trí tuệ, nhận thức.
Vưgôtxki khẳng định rằng: nhận thức của con người bao giờ cũng mang đậm nét văn hóa xã hội, và chịu ảnh hưởng của những giá trị, niểm tin, cách sống của nền văn hóa, nơi con người đó sinh
sống (ngay cả khi người đó chỉ tư duy một mình).
Vưgôtxki cho rằng, trẻ em sinh ra với chỉ một vài chức nang tam lý sơ đẳng (chú ý, cảm giác, tri giác và trí nhớ). Những chức năng này dần dần sẽ phát triển và trở thành các chức năng tâm lý cao cấp, phức tạp. Sự phát triển này diễn ra dưới ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa xã hội. Mỗi nền văn hóa truyển cho trẻ em cách nhớ, cách suy nghĩ, cách tư duy. Ngoài ra mỗi nển văn hóa còn có những giá trị và chuẩn mực khác nhau, nên nó còn day cho trẻ em cần chú ý, cẩn nhớ, cần suy nghĩ về cái gì.
—_ Và vì mỗi nền văn hóa xã hội có hệ thống giá trị, chuẩn mực, các công cụ phương tiện tư duy khác nhau (đặc biệt ở những nến
văn hóa khác xa nhau như các bộ lạc vùng núi với các nước công nghiệp văn minh) nên nội dung và phương thức phát triển trí tuệ, nhận thức cũng rất khác nhau, và không thể giống nhau đối với toàn thể nhân loại:
Sự phát triển nhận thức của trẻ diễn ra phân nhiều nhờ uào sự dẫn dắt của cha me, thay cô uà những người có kinh nghiệm hơn.
Vưgôtxki đồng ý với Piaget là trẻ em luôn ham hiểu biết, tích cực tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh. Nhưng khác với Piaget, Vưgôtxki cho rằng, nhiều phát hiện quan trọng của trẻ em diễn ra nhờ sự dẫn dắt của người lớn (người có kinh nghiệm hơn), chứ không phải do trẻ tự mày mò mà có được.
Đầu tiên người lớn cùng hoạt động với trẻ, người lớn làm trước
để trẻ nhìn, vừa làm vừa giải thích cách làm. Đứa trẻ nhập tâm dan
chi dẫn của người lớn, sau đó mới tự thực hiện công việc một mình.
Ví dụ: Bé Hoa 4 tuổi vừa nhận được quà sinh nhật là hộp ghép hình, bé mở ra nhưng không biết chơi cho đến khi bố bé đến, ngổi cạnh và
hướng dẫn cho bé một vài điểu. Người bố gợi ý nên ghép các góc trước tiên, và chỉ vào màu xanh của mảnh ở góc và để nghị: “Chúng ta cùng tìm mảnh có màu giống thế này nữa nhé”. Khi Hoa ling túng, không biết tiếp tục thế nào, bố bé đặt 2 mảnh cạnh nhau để bé nhận ra chúng, khi Hoa làm được, bố khen ngợi, động viên bé. Khi Hoa từng bước nằm được cách chơi, bố bé đứng lên và để bé tự chơi một mình. |
Như vậy, người lớn có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, động viên và khích lệ trẻ thông qua việc cùng học, cùng chơi với chúng.
Vung phat trién gin nhat
Một trong những khái niệm quan trọng do Vưgôtxki đưa ra là
khái niệm vùng phát triển gần nhất. Vùng phát triển gần nhất, theo cách hiểu của ông, là khoảng cách giữa mức phát triển hiện có của đứa trẻ và mức phát triển có thể đạt được của nó nếu có sự gợi ý,
giúp đỡ của người lớn. s |
Mức phát triển “hiện có” của trẻ thể hiện ở những gì trẻ có thể tự thực hiện, không cẩn giúp đỡ. Mức phát triển “có thể đạt được” của
trẻ được xác định bởi những gì trẻ có thể hiểu, hay làm được dưới sự
chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn của người lớn. Theo Vưgôtxki, giáo dực
cần phải hướng vào chính “vùng phát triển gần nhất” của mỗi đứa trẻ.
_ Khái niệm “vùng phát triển gần nhất” có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn quan trọng, gắn liển với những van để cơ bản, nền tang cua tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm. Đó là các vấn để về: sự hình thành và phát triển các chức năng tâm lý cấp cao; mối quan hệ giữa dạy học và các yếu tố thúc đẩy sự phát triển trẻ em, v.v.
Các chức năng tâm lý cấp cao, đầu tiên được hình thành trong hoạt động cùng với mọi người, với người lớn, và dần dần trở thành các quá trình tâm lý bên trong của chính đứa trẻ.
Dạy học chỉ tốt và đúng khi: nó đi trước sự phát triển hiện có của trẻ em và tác động vào đúng vùng phát triển gần nhât của trẻ, thúc.
đẩy sự phát triển khả năng tiểm tàng có thể có của đứa trẻ ở thời điểm đó. Nói cách khác, dạy học phải đi trước và kéo theo sự phát triển của trẻ em.
Vưgôtxki đã phát hiện ra cơ chế phát triển tâm lý là nhập tâm hóa, biên hoạt động bên ngoài thành hoạt động tâm lý bên trong và xuất tâm hóa các phẩm chất tâm lý bên trong qua hoạt động xã hội
bên ngoài. Đồng thời thuyết lịch sử ~ văn hóa cũng đã nêu bật bản
chất xã hội — lịch sử của tâm lý người, của nền văn hóa, của ngôn ngữ
trong việc hình thành, phát triển tâm lý. Các tư tưởng của L.X.
Vưgôtxki mở ra hàng loạt vân để cần giải quyết và tao nén tang phương pháp luận và lý luận vững chắc cho sự phát triển sau này
của tâm lý học hoạt động. Su
2.6. Tam ly học hoạt động
Các tư tưởng phát triển của Vưgôtxki, dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đã được các nhà tâm lý học Xô-viết (A.R. Luria, A.N. Leonchiev, D.B. Enconhin, A.V. Zaparogiet, N.U. Zintrenko, P.la. Galperin, L.I. Bagiôvich,... ) vận dụng và xây
dựng nên trường phái Tâm lý học hoạt động vào cuối những năm
30 của thế kỷ XX. |
-Phát triển tư tưởng phát triển của Vưgôtxki, các nhà tâm lý học hoạt động nhận định: hoạt động thực tiễn co vai tro rat quan trong đổi với sự phát triển tâm lý con người.
_— Con người không phải là sản phẩm trực tiếp của các yếu tố sinh học, cũng không phải là sản phẩm thụ động của các tác động xã hội.
Con nguoi la san phẩm va la chit thể tich ¢ cực của chính hoạt động của minh.
Tuy nhién hoat động của con người lại chịu sự chế ước của các điểu kiện hoạt động mà xã hội tạo ra, các yếu tố văn hóa. - xã hội, Nhưng, các yếu tố văn hóa — xã hội thực chất cũng do con người sáng tao’ Ta, Chứ không phải là cái tổn tại khách : quan, đối lập với con người. Xã hội và sự tổn tại có tính lịch s sử của xã hội là do chính con
người tạo ra. : "
Có thể thấy quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động rất gắn bó với quan điểm của C. Mác “con người tạo ra hoàn cảnh tới mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra Con người đến mức ây“.
_ Theo các nhà tâm lý học hoạt động, quá trình phát triển của cá nhân là quá trình chủ thể tích cực hoạt động và giao tiếp để lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội để biến chúng thành những kinh nghiệm riêng của bản than. Tâm lý của cá nhân có nguổn-gốc từ bên
ngoài. Sự phát triển tâm lý bắt đầu từ sự thay đổi các hành vi bên
ngoai, dan đến sự thay đổi cấu trúc bên trong. Phát triển tâm lý có nghĩa là làm nảy sinh những cấu trúc tâm lý mới, bằng cách cải tổ lại những câu trúc tâm lý đã có nhờ hoạt động và giao tiếp tích cực của cá nhân (Dẫn theo Petropxki A.V.„ 1986).
Chúng ta sẽ còri khai thác một số thành tựu quan trọng của \ tâm lý học hoạt động trong những nội dung tiếp theo. "
2.7. Mô hình hệ thống của Bronfenbrenner
Trong các thập kỷ cuối của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu có xu hướng kết hợp các lý thuyết trong lĩnh vực phát triển với nhau tạo ra những. mô hình với các cấp độ phân tích cao hơn. Các tác giả tập trung nhiều hơn vào các hệ thống, các nguyên tắc hoạt động và đặc điểm biến đổi của chúng trong tiến hoá. Ví dụ, cơ thể con người là một hệ thông, các thành tố của nớ là: đầu và não, các cơ quan cảm
giác và các cơ quan bên trong, hệ cơ và chân tay, các bộ phận này tác động với nhau theo một số nguyên tắc thực hiện nhiều chức năng để duy trì sự sống của cơ thể; Não là một hệ thống, các thành phần trong cấu trúc não luôn tác động qua lại với nhau một cách có hệ thống để đảm bảo các quá trình tư duy, tình cảm và hành động; Nhìn một cách tổng thể hơn thì gia đình, con người và các nhóm xã hội cũng là hệ thống mà các thành tố của nó là các cá nhân.
Việc quan tâm tới các hệ sinh lý và các nhóm xã hội như là một hệ thống không phải là cái gì mới. Tuy nhiên, việc ap dung cach tiép cận hệ thống cho nghiên cứu sự phát triển tâm lý vẫn là tương đối mới. Ngoài ra, việc nghiên cứu mối liên hệ giữa những lý thuyết phát triển con người hoàn toàn khác nhau, thậm chí đối lập nhau là một điều rất mới. Các nhà lý thuyết hệ thống đã tập trung sự chú ý của mình tới tác động qua lại giữa một số lượng lớn các. biến số và số lượng tối đa các mức độ. Theo họ, con người không chỉ là thực thể
“sinh vật”, “tâm lý” và “xã hội”, con người trước hết là một “hệ thống” (Grace J. Craig, Don Baucum, 2002).
Mô hình hệ thống về sự phát triển tâm lý con người có ó nguồn gốc từ quan niệm của Ù. Bronfenbrenner (Bronfenbrenner, 1989)...
Theo cách tiếp cận này, sự phát triển của con người là quá trình
sinh động diễn ra theo hai xu hướng, đầu tiên sự phát triển được quy định bởi cơ sở đi truyển, sau đó nó lại chịu sự tác động trực tiếp của môi trường xung quanh. Môi trường xung quanh trực tiếp đầu tiên là các thành viên trong gia đình. Cá nhân thường xuyên tái cấu trúc môi trường sống của mình một cách tích cực, đồng thời chịu sự tác động từ các phần tử và các môi liên hệ qua lại giữa chúng, và chịu sự ảnh hưởng của môi trường xung quanh rộng lớn. Theo Bronfenbrenner và các cộng sự, môi trường văn hoá xã hội bao gồm 4 hệ thống đan xen lẫn nhau, chúng thường được biểu thị dưới dạng các vòng. tron đồng tâm. Đặc điểm điển hình của mô hình này là mối liên hệ ngược mềm dẻo của các tiểu hệ thống trong thời gian, tạo ra hệ thống thứ
5 là hệ thời gian. Bốn hệ thống đó là:
Hệ thống ơi mô, hoặc là mức độ thứ nhất của mô hình có quan hệ với cha mẹ và tác động của cá nhân trẻ với môi trường gần kể, như:
gia đình, vườn trẻ và trường học. Các tác động này được gọi là các
quá trình. gần gũi nhất. Ví dụ, phát triển của trẻ trong gia đình có thể được nâng đỡ bởi sự chu đáo của mẹ đối với bước đi đầu tiên của trẻ trên con đường tự lập: Hơn nữa sự thể hiện độc lập của trẻ có thể thúc đẩy người mẹ tìm các cách thức mới để duy trì hành vi đó.
Trong tính liên tục của mình tiểu hệ thống là mức độ môi trường thường được các nhà tâm lý và các chuyên: gia khác trong lĩnh vực phát triển nghiên cứu. ..
Ạ 'Hệ thống trung mô, hoặc mức độ thứ hai, được tao. ra bởi c các mỗi quan hệ qua lại giữa hai (hoặc nhiều hơn) các tiểu hệ thống: Như các mỗi quan hệ chính thức và không chính thức giữa gia đình, nhà trường hoặc giữa gia đình, nhà trường và nhóm bạn bè. Ví dụ giao tiếp thường xuyên giữa cha mẹ và giáo viên ảnh hưởng rất tốt tới kết quả: học tập của trẻ trong trường. Tương tự như vậy, sự chú ý của thầy cô tới trẻ ảnh hưởng t tốt: tới sự tác động qua lại với các thành viên trong gia đình của tré.
Hệ ngoài, hoặc là mức độ thứ ba, có quan hệ với các ' khía cạnh của môi trường xã hội hoặc các cấu tạo nằm ngoài kinh nghiệm trực tiếp của cá nhân, nhưng ảnh. hưởng rất mạnh tới nó, như: chỗ làm việc của cha mẹ, các cơ quan bảo vệ sức khoẻ và trợ giúp xã hội ở địa phương, số lượng người thân trong gia đình trẻ, bạn bè của cha mẹ.
Ví dụ, công ty của người mẹ có thể cho nghỉ một số ngày trong tuần để làm: việc ở nhà. Điểu này cho phép người mẹ sử dụng nhiều thời gian với trẻ hơn, và thúc đẩy trẻ phát triển một cách gián tiếp. Ngược lại, việc người mẹ có thể chăm sóc trẻ nhiều hơn sẽ làm giảm sự căng thắng cho mẹ và nâng cao hiệu quả lao động của họ.
He vi mô (mức ngoài cùng) không | có quan hệ với một môi trường cụ thể của trẻ, Nó bao gồm giá trị cuộc sống, các chuẩn. mực và truyền thống của nến văn hoá nơi trẻ sống. “
- Mặc dù việc can thiệp để duy trì và kích thích quá trình phát triển có thể thực hiện ở các mức độ khác nhau của mô hình,
Bronfenbrenner cho rang sự can thiệp đóng vai trò quan trọng nhất ở
mức độ hệ vĩ mô. Điều này có thể xảy ra vì hệ vĩ mô có thể tác động
tới các mức độ khác. Ví dụ các chương trình của chính phủ như Head Start đã ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển học thức và phát triển xã hội của nhiều thế hệ trẻ em ở Mỹ.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1.
Câu 2.
Câu 3.
Câu 4.
Cau 5.
Cau 6.
Anh/ chị hãy trình bày các quan điểm về động lực của sự phát triển tâm lý. Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của chúng.
Hãy trình bày khái quát thuyết phân tâm của S. Freud về sự phát triển tâm lý người. Đánh giá ưu điểm và “nhược điểm _của chúng..
Trình bày khái quát 8 giải đoạn phát triển tâm lý xã hội , của E. Erikson. Danh gia wu diém va nhược điểm của chúng.
Trình bày mô hình học tập “thử và sai“ của Thorndike, “dạy học tạo tác” của Skinner và “học tập xã hội” của Bandura trong Tâm lý học hành vi. Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của chúng.
Trình bày'khái quát thuyết phát triển nhận thức của J. Piaget về sự phát triển tâm lý người. Đánh giá ưu điểm và nhược . điểm của chúng.
Trình bày một số luận điểm trong lý thuyết văn hóa lịch sử của L.X. Vưgôtxki về sự phát triển nhận thức t trẻ em. Đánh giá _ ưu điểm và nhược điểm của chúng.
Cau 7.
Cau 8.
Trinh bay khai quat quan điểm của ‘Tam ly hoc hoat động về cơ chế của sự phát triển tâm lý người. Đánh gid. ưu điểm và nhược điểm của chúng. .
Phân tích vai trò của các hệ môi ¡ trường trong r mô hình hệ thống của U. Bronfenbrenner đối với sự phát triển tâm lý người. Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của chúng..