Các mối quan hệ giao tiếp

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 145 - 152)

SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ MẪU GIÁO

3.3. Các mối quan hệ giao tiếp

Trẻ 3 - 6 tuổi có phạm vi giao tiếp mở rộng hơn trước rất nhiều.

Trong hai tuyến quan hệ tương tác với đổ vật và với con người, thì ở lứa tuổi này, tuyến quan hệ người - người nổi trội hơn trong

hoạt động của trẻ (Encônhin, 2004). Các mối quan hệ chính vẫn là giao tiếp với cha mẹ, cô giáo và bạn cùng tuổi.

Nhìn chung, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tuổi mẫu giáo diễn ra rất tốt đẹp, trẻ thường quấn quýt và gắn bó với cha mẹ, người

thân và thể hiện tình cảm đó bằng các hành vi và lời nói rất đáng yêu.

Ví dụ, ôm chẩm lấy mẹ khi tan học, ôm cổ bố khi được bế trên tay, ôm hôn cha mẹ trước khi vào lớp. Tuy nhiên, không phải cha mẹ nào.cũng hình thành được ở con mình những phẩm chất tốt đẹp như mong muốn. Một số trẻ tỏ ra ương bướng và không nghe lời người lớn.

Tình bạn của trẻ mẫu giáo đã bắt đầu hình thành. Trẻ đã có xu hướng thích chơi với một số bạn này hơn những bạn khác.

Quan sát những đứa trẻ trong các trường mẫu giáo có thể nhận.

thấy rằng, có một số trẻ được bạn bè yêu quý, còn số khác thì không.

Điểu đáng nói là khi lớn lên, những trẻ em bị ghét ở trường mẫu giáo sau này cũng khó được chấp nhận vào nhóm bạn cùng học ở trường

tiểu học. Đến độ tuổi thiếu niên và thanh niên, những đứa trẻ như

thế dễ gặp phải nhiều khó khăn trong vấn để thích nghỉ xã hội.

Những trẻ như thế nào thì thường được bạn bè yêu quý?. Các nghiên cứu cho thấy, những trẻ được bạn bè quý mến thường có tỉnh thần hợp tác, chia sẻ, nhường nhịn nhiều hơn trong khi chơi với các

ban (Asher, 1983). Asher đã đưa ra danh sách các phẩm chất đặc trưng cho những đứa trẻ dễ được quý mến giai đoạn tuổi mẫu giáo, trong đó có một số như sau:

+ Thể hiện tính tích cực, dần dan hoa nhập vào nhóm, đưa ra những giải thích đúng lúc và biết chia sẻ thông tin.

+ Nhạy cảm với những yêu cầu và những hành động của a những đứa trẻ khác.

+ Không áp đặt ý muốn của mình cho những đứa trẻ khác.

+ Khi cần có thể giúp đỡ những đứa trẻ khác.

+ Có khả năng duy trì cuộc nói chuyện. : + Trong các tình huống xung đột không gây gổ hoặc dùng vũ lực. : Ngược lại, những đứa trẻ không được chấp nhận thường có tính gây gổ nhiều hơn. Có thể hiểu sự gây gổ là những hành vi tấn công, dọa nạt, gây tổn thương cho người khác nhằm chiếm ưu thế. Ví dụ, một đứa trẻ xô đẩy đứa trẻ khác để giành lấy chỗ lên cầu trượt. Sự' gây gổ khác với những hành vi kiên quyết, không gây thiệt hại cho.

người khác để bảo vệ các quyển của bản thân. Gây gổ có thể bằng sức mạnh hoặc bằng lời nói. Gây gổ có thể nhằm vào con người, con vật:

hay các đổ vật.

Vậy, tại sao một số trẻ lại hay gây gổ hơn những trẻ khác? Sự gây gổ ở những đứa trẻ tuổi mẫu giáo là biểu hiện của cảm xúc giận dir va thi: han. Các nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ giữa tính gây gổ và sự thất bại. Những trẻ thất bại trong việc hình thành những kỹ năng và tính tự chủ hay gây gổ hơn những trẻ thành công..

Bị trừng phạt cũng làm cho đứa trẻ có tính gây gổ. Trẻ càng bị phạt nhiều thì càng có hành vi gây gổ nhiều hơn. Ngoài ra, theo lý thuyết

học tập xã hội của Bandura, nếu trẻ chứng kiến người lớn . Bay gổ và giành được ưu thế thì chúng cũng học theo.

Như vậy, mối quan hệ giao tiếp có vai trò đặc biệt quan vung đối với trẻ 3 - 6 tuổi trong các hoạt động vui chơi, học tập, giúp đỡ lẫn nhau của trẻ. Chất lượng của các hoạt động này ] lại chỉ phối sự phát triển tâm YY ý thức của trẻ.

4. Sự phát triển tự ý thức

_Ở mức độ ý thức, trẻ đã bắt đầu nhận thức, tỏ thái độ, và dự kiến trước hành vi của mình. Các quá trình nhận thức có chủ định bắt đầu

phát triển cộng với vốn biểu tượng phong phú giúp trẻ có khả năng suy ngẫm lại những gì đã xảy ra. Trẻ tích cực tìm hiểu về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và tỏ thái độ của mình qua các cảm xúc thích, không thích, yêu, ghét khá rõ ràng. Trẻ đã biết phân biệt những hành vi đáng khen và những hành vi đáng chê, đã nhận biết một số chuẩn mực xã hội, tuy mới chỉ ở hình thức bên ngoài. Trẻ bắt đầu có khả năng hình dung trước kết quả hành động của mình và kìm hãm những hành động không được mọi người chấp nhận.

._. Tự ý thức ở trẻ mẫu giáo, có mầm mống từ khoảng 2 tuổi, cũng được hình thành và phát triển. Tự ý thức trước hết thể hiện ở tự đánh giá bản thân. Đầu tiên các em mới biết đánh giá những hành động của các trẻ khác. Trẻ thường đánh giá hành vi của trẻ em khác theo sự đánh giá của người lớn. Sau đó, trẻ đánh giá bản thân, cũng theo sự đánh giá của người lớn. Dần dẩn, trên cơ sở khái quát, đối chiếu, so sánh trẻ bắt đầu tự ý thức về các phẩm chất và năng lực của bản thân.

ˆ Khi đánh giá về khả năng của mình thì trẻ 4, 5 tuổi thường hay

“thối _phổng sự thật”. Chúng ta có thể nghe bọn trẻ “ba hòa” với nhau. về những việc chúng có thể làm, và thấy chỉ có siêu nhân mới làm được như vay. Dén 6 tuổi, ở trẻ vẫn giữ tự đánh giá cao, nhưng khi nói về thành công nào đó của mình, trẻ đã nói CÓ CƠ SỞ hơn. Đến

_ Nhìn chung, tự đánh giá của trẻ mẫu giáo rất cao, nó giúp trẻ tích cực tham gia các dạng hoạt động mới, ít lưỡng lự phân vân, không sợ sệt. Sự tự tin ở giai đoạn nay | co vai tro dac biét quan trong, no giup tre lĩnh hội các tri thức mới, sẵn sàng khám phá những điểu mới mẻ và chuẩn bị bước vào lớp 1 một cách dễ dàng.

M.I. Lixina, nhà tâm lý học trẻ em Nga, đã nghiên cứu môi quan hệ giữa sự phát triển tự đánh giá của trẻ mẫu giáo với những đặc điểm giáo dục gia đình. Những trẻ có tự đánh giá phù hợp thường được giáo dục trong những gia đình, trong đó bố mẹ dành khá nhiều thời gian cho trẻ, đánh giá trẻ khá cao về cơ thể và trí óc. Các bậc cha mẹ này luôn động viên, khích lệ trẻ, những không phải bằng quà, mà bằng những tình cảm nồng nhiệt. Họ dự đoán rằng các em sẽ-họt tốt ở trường, nhưng không cho rằng mức phát triển của con mình vượt trội so với phần lớn các bạn cùng tuổi.

Trẻ có tự đánh giá thâp thường sống trong các : gia “đình mà cha te hau nhu không dành thời gian cho trẻ, nhưng lại đòi hỏi trẻ phải nghe lời. Ngoài ra, cha mẹ trong các gia đình này thường đánh giá trẻ thấp, hay chê bai, hay mắng phạt trẻ, ngay cả khi có mặt người khác.

Họ có sẵn suy nghĩ rằng trẻ sẽ học kém và chẳng làm nên trò trong 8ì _ Cồn trẻ em có tự đánh giá cao thường sống trong những. gia đình, trong. đó, người lớn thường hãnh diện cho rằng con cái họ phát triển hơn các trẻ khác về thể chất và trí tuệ. Họ thường. khen và thưởng trẻ bằng các món quà, thường, xuyên khen trẻ trước mặt người khác. Những cha mẹ này còn tỉn chắc rằng, trẻ sẽ học xuất s sắc ở trường và sẽ làm mọi cách để đạt được diéu đó..

-_ Trẻ mẫu giáo thường tự đánh giá thông qua những đánh g giá của những người xung quanh. Sự đánh giá và kỳ vọng không phù: nop của gia đình có thể rất ảnh hưởng đến tự đánh giá của trẻ..

Ở tuổi này trẻ cũng bắt đầu ý thức về ` những cảm xúc của mình.

Trẻ biết mình đang khóc vì điểu gì (nếu hỏi trẻ “tại sao con kHóc”

trẻ có thể trả lời). Trẻ cũng ý thức được những phẩm chất thuộc giới

tính của mình, đa số bé trai muốn trở nên mạnh mẽ, dũng cảm, còn

bé gái muốn trở thành các cô bé xinh xắn, duyên đáng. Đến cuối

tuổi mẫu giáo, các bé trai và bé gái bắt đầu chơi các trò chơi đặc

trưng cho mỗi giới. si

Trẻ cũng ý thức được bản thân theo thời gian, ví dụ, trẻ có thể kể lại về quá khứ “hổi trước, lúc con còn học lớp mẫu giáo bé...” , hoặc nói về bản thân ở thời tương lai “khi nào con lớn, con sẽ...”

5. Se tiếp thu các khái niệm và các chuẩn mực xã hội.

(Cac nha, tam ly hoc khẳng định rằng, sự hình thành khái niệm xã hội là quan trọng đổi với sự phát triển của con người. Với tư cách là thành viên của xã hội, mỗi người cẩn phải tiếp thu, lĩnh hội các chuẩn

mực xã hội. Sự lĩnh hội đó bắt đầu ở trẻ từ rất sớm.

- Trẻ 3 — 4 tuổi đã bắt đầu cố gắng phân biệt hành vi này hay hành vi khác là tốt hay xấu, bước đầu tiếp thu các khái niệm và các chuẩn

mực xã hội. Trẻ bắt đầu học các giá trị xã hội và các chuẩn mực đạo

đức. Đó là các chuẩn mực liên quan đến giới tính tương ứng của trẻ,

các chuẩn mực đạo đức chung cho tât cả mọi người, và các chuẩn mực truyển thống văn hóa - xã hội.

Đầu tiên trẻ chỉ đơn giản là bắt chước các cách diễn đạt bằng lời nói của người lớn. VÍ dụ trẻ nói với đứa em 2 tuổi “Không được vẽ phan lên tường”, Đôi khi nó cũng muốn vẽ phan lên tường, song nó lại kiểm chế và tự nói với mình không nên làm điểu đó. Các nhà tâm lý học nhận xét rằng, không : chỉ ý thức đang phát triển mà cả các khái niệm xã hội đang hình thành cũng giúp trẻ nỗ lực điểu khiển hành vi của mình. Những khái niệm đó phản ánh sự hiểu biết đang phát triển của đứa trẻ về bản thân mình và những người khác. Ví dụ, trẻ

trước tuổi đi học có thể hiểu lơ mơ các khái niệm như “ “ngoan”, “hư”,

“tình thương”, “tình bạn”. Mặc dù trẻ 4, 5 tuổi chưa có khả năng biểu

hiện bằng lời nói tình bạn là gì, nhưng vẫn giữ một số quy tắc về các quan hệ tình bạn như quan tâm và chú ý lẫn nhau. Nhiều khái niệm xã hội vẫn còn quá trừu tượng đối với trẻ như “cộng bằng”, “tôn trọng”, trẻ chưa hiểu nó là gì nhưng vẫn có những hành vi biểu hiện

sự công bằng, sự tôn trọng. Ví dụ, nếu một đứa trẻ giành giật đổ chơi

của bạn và làm cho bạn khóc, thì trẻ 4, 5 tuổi có thể mách cô và phán

xét bạn nào đúng, bạn nào sai.

Trẻ cũng bắt đầu học cách hiểu được những ý nghĩ của người khác,

những ý định, tình cảm và nguyện vọng của họ. Hiểu được những điểu người khác nghĩ là đặc biệt cần thiết đối với việc hình thành các môi quan hệ bạn bè và việc giải quyết các cuộc cãi cọ sau này.

Các cuộc tranh cấi với những đứa trẻ cùng tuổi, với anh chị và cha mẹ có vai trò quan trọng, qua đó trẻ thể hiện mức độ hiểu biết xã hội của mình và kiểm tra lại chúng. Trẻ bắt đầu có khả năng đưa ra những lý lẽ căn cứ vào các chuẩn mực và các quy tắc xã hội. Ví dụ, trẻ lý giải cho hành vi của mình khi chơi “Bây giờ đến lượt tớ” hoặc trẻ cảnh báo bạn “Vẽ ra tường sẽ bị cô phạt đấy”. Cha mẹ nên tham gia vào các cuộc tranh luận của trẻ để giúp phát triển hiểu biết của chúng về các chuẩn mực xã hội, khả năng lý giải và dự báo về những

hậu quả của hành vi dựa vào các quy tắc xã hội. |

Trò chơi đóng vai theo chủ đề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhận thức và các kỹ năng xã hội của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.

Loại trò chơi này tạo ra nhiều cơ hội để trao đổi tập thể và cùng nhau

giải quyết vân để. Trẻ phải thoả thuận với nhau về chủ để của trò

chơi, các điểu kiện có thể chấp nhận được và cùng nhau đưa ra quy tắc chơi. Những ai không tuân thủ quy tắc chơi hoặc làm trái với những chuẩn mực xã hội đều bị phản đối và yêu cầu làm lại. Thông qua trò chơi tưởng tượng mô phỏng các tình huông xã hội này, trẻ

học được cách hợp tác, lĩnh hội các chuấn mực xã hội, phát huy khả

năng tổ chức và điểu khiển hành vi.

CÂU HỎI ÔN TẬP .

Câu 1. Hãy nêu những thay đổi về thể chất và hoạt động của trẻ từ 3 đến 6 tuổi. Vai trò của trò chơi đóng vai đối với sự t phat trién tâm lý của trẻ mẫu giáo.

Câu 2. Trình bày về sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo.

Câu 3. Sự phát triển cảm xúc, động cơ và các mối quan hệ giao tiếp của trẻ 3 - 6 tuổi.

Câu 4. Mối quan hệ giữa tự ý thức và tự đánh giá của trẻ 3 — 6t tuổi.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của trẻ.

Câu 5. Vai trò của sự tiếp thu các khái niệm và các chuẩn mực xã hội đối với sự phát triển của trẻ 3 - 6 tuổi với tư cách là thành viên của xã hội.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 145 - 152)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)