Sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 110 - 124)

2.1. Sự bắt chước

Theo Piaget, khả năng bắt chước theo các hành động của người khác ở trẻ em là một trong những biểu hiện của sự phát triển nhận thức.

Có thể đễ dàng nhận ra rằng, chơi với đồ vật ở đứa trẻ 1—3 tuổi là sự bắt chước những hành động của mọi người xung quanh mà trẻ cảm nhận được. Tuy nhiên những mầm mống ban đầu của hành vi

bắt chước đã bắt đầu hình thành ở trẻ sơ sinh.

-' Trong vòng 2 tháng sau khi sinh trẻ có thể bắt chước theo những

biểu hiện nét mặt của người nói chuyện trực tiếp với trẻ. Sau đó, các nhà nghiên cứu thấy rằng, sự bắt chước điệu bộ, nét mặt ở trẻ sơ sinh

mất đi vào tháng thứ 2, thứ 3 và tiếp tục được phục hổi chỉ sau một vài tháng (Meltzoff, Moore, 1989).

Dén thang thir 3, thir 4, quan sat tré va me của chúng nói chuyện

với nhau, chúng ta có cảm giác dường như trẻ đang bắt chước lại lời nói của mẹ. Các bà mẹ dường như cũng bắt chước theo những âm thanh phát ra từ miệng con. Vì vậy, khó mà nhận biết được giữa mẹ và đứa trẻ thì ai bắt chước ai.

Đến tháng thứ 6, thứ 7 khả năng bắt chước các cử chỉ, hành động của người lớn ở trẻ càng hoàn thiện hơn, lúc đầu tré chỉ bắt chước các cử chỉ thường xuyên lặp đi lặp lại một cách có hệ thống của người lớn, như: xòe, nắm tay, chỉ tay về phía vật. Đến

tháng thứ 9, trẻ có thể bắt chước theo những cử chỉ, hành động

phải dùng cả hai tay như đập hai vật vào nhau.

Khoảng 2 tuổi, trẻ có khả năng bắt chước theo các cử chỉ hành động của người lớn mà trẻ đã nhìn thấy trước đó. Lúc đầu trẻ chỉ bắt chước theo những hành động mà chúng muốn bắt chước. Về sau trẻ bắt chước theo cả những hành động mà bố mẹ yêu cẩu, như đánh răng hay ăn bằng thìa. Thậm chí một số trẻ nhanh chóng tập làm quen được với việc đi bô là do bắt chước theo những đứa trẻ lớn hơn.

2.2. Tri giác

Có thể nói rằng trong tất cả các quá trình nhận thức (tri giác, tư duy, trí nhớ, chú ý...) thì sự phát triển tri giác chiếm ưu thế nhất ở trẻ em từ 1 đến 3 tuổi. Điểu này thể hiện ở sự phụ thuộc của các quá trình tâm lý khác vào khả năng tri giác của trẻ. Mọi hành vi của trẻ đều gắn liển với những gì trẻ trực tiếp tri giác trong hiện tại, còn tất cả những gì nằm ngoài trường tri giác của trẻ đều không có ý nghĩa gì lắm đối với trẻ. Ví dụ, nếu người mẹ dặn một đứa con 2 tuổi ngồi yên trên phế đợi mẹ một lúc, thì ngay khi người mẹ đi khỏi, trẻ lập tức bị lôi cuốn bởi những cảnh vật xung quanh trong trường tri giác của nó và bat dau lam những gi no thich. Vi vay, nhiém vu ngổi yên

trên phế một mình đợi mẹ đà không thể thực hiện được đối với đứa

trẻ 2 tuổi. : :

Bên cạnh tr giác thị giác, trị giác thính giác cũng phát triển mạnh. Trẻ nhỏ rất nhạy cảm với các âm thanh ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ. Giai điệu của những bài hát ru, các bản nhạc, tiếng kêu của các con vật đều là những âm thanh thú vị, lôi cuốn sự chú ý của trẻ. Trẻ cũng phân biệt được và hay bắt chước những â âm thanh nay. .

Một điểm đặc biệt của tri giác ở lứa tuổi này là màu sắc xúc cằm của tri giác. Đi kèm với tri giác luôn là những phản ứng xúc cảm (vui sướng, ngạc nhiên, sợ hãi...). Trẻ tri giác những gì nó thích và hành động theo ý thích đó. Có thể nói, cảm xúc là cầu nối cho sự thống nhất giữa trí giác 0à uận động. Vi dụ, trẻ nhìn thấy một đồ vật... và rất thích thú ... muốn lấy đổ vật đó => hành động lấy đổ vật, mày mò, khám phá. Vugôbdki miêu tả sự thống, nhất đó như sau: Ở trẻ em từ 1 đên 3 tuổi, tri giác mang đậm màu sắc cảm xúc sẽ trực tiếp chuyển thành

hành động.

23. Tưởng tượng

Trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi bắt đầu tưởng tượng, có nghĩa là trẻ

bắt đầu hình dung ra các vật, hiện tượng. Tưởng tượng ở trẻ phát triển trải qua một loạt các giai đoạn:

Giai đoạn đầu là từ 11-12 tháng tuổi, hầu hết trẻ được 1 năm

tuổi có thể tưởng tượng ra là chúng đang ăn, đang uống hoặc đang ngủ, hay nói cách khác trẻ tưởng tượng các hành động quen thuộc đưới hình thức các hình ảnh. Trẻ tưởng tượng ra các tình huông va dùng chính cơ thể mình để diễn tả chúng, ví dụ: trẻ có thể giả vờ là

đang ngủ và nằm cuộn tròn trên tấm thảm, trẻ mô tả một cái nhà to

bằng cách khoát hai cánh tay rộng ra hai bên.

- Khi lớn hơn trẻ thường xuyên sử dụng đổ chơi và các đổ vật khác cho các trò chơi tưởng tượng. Trẻ từ 15 đến 18 tháng tuổi đã

biết cho búp bê ăn bằng thìa, bát đĩa đổ chơi. Trẻ từ 20 đến 26 tháng

tuổi có thể tưởng tượng được một vật là một vật gì đó khác. Ví dụ, trẻ có thể dùng cái chổi làm ngựa, cái lá dùng làm bát đĩa, giấy

dùng làm tiển, bàn tay làm gương soi, khúc gỗ làm khẩu súng, sàn nhà trở thành bể bơi. Các hình thức tưởng tượng như thế ở trẻ thể hiện sự phát triển nhận thức. Trẻ chỉ dùng một vật thay thế cho một vật khác khi nhận › ra sự giống nhau nhất định về hình thức bên ngoài giữa cỏc vật. "ơ

Mặc dù trẻ đã có khả nang nhớ không chủ định cái gì đó, nhưng phần lớn trí nhớ của trẻ vẫn dựa trên trí giác và đường như là sự tiếp diễn của tri giác, chứ chưa a phải trí nhớ dựa trên những hình ảnh, kinh nghiệm. cũ.

2. 4. Tự duy

. _ Dạng tư duy ‹ cơ bản của trẻ em lứa tuổi này là tư duy trực quan hành động, loại tư duy được thể hiện qua các hành động định hướng bên ngoài, và chỉ diễn ra trong quá trình hoạt động trực tiếp

với đổ vật.

Giai đoạn này, trẻ rất tich cực khám phá những mối liên hệ mới mẻ, thú vị đối với trẻ. Ví dụ: Trẻ muốn biết điểu gì sẽ xảy ra khi bật công tắc đèn hay bẩm các nút của điều khiển tỉ vi.

Như phần trước chúng ta đã nói, tri giác và hành động là cơ sở cho sự phát triển những hành động phối hợp có cấu trúc ?hơng tiện

— muc dich như: kéo rổ lại gần để lấy quả bóng, đi lại phía mép giường gần quả bóng hơn để với lấy nó. Những hình thức sơ khai này của tư duy trực quan hành động xuất hiện vào cuối năm thứ nhất, tuy nhiên đó chưa phải là hành động tư duy thực sự.

- Tư duy thực sự được coi là bắt đầu xuất hiện khi trẻ có khả năng tìm ra các mối quan hệ chưa có sẵn để giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn mới. Đó là khả năng phát hiện ra những mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mà trước đó trẻ chưa biết.

Ví dụ, khi quả bóng lăn vào gầm giường, thoạt đầu trẻ cố với bang tay - - không được, vòng sang mép giường khác cũng không được, loay hoay một lúc, trẻ đành bỏ cuộc. Tình huống, này lặp lại

một vài lần. Cho đến một hôm, trẻ bỗng “ “chợt nghĩ ra” cách lấy cái

que mà bố vẫn hay dùng để khểu mắc áo đang để cạnh giường để

khểu quả bóng. Trẻ rất vui sướng khi lấy được bóng bằng cách này, rất thích thú với khám phá mới. Hành động này là hành động tư duy, chứng tỏ trẻ đã phát hiện được môi quan hệ giữa cái que và quả bóng, vốn tổn tại độc lập, để giải quyết vấn để. Loại tư duy này có cả ở những động vật bậc cao mà chúng ta có thể quan sát trong các thí nghiệm của các nhà tâm lý học Gestal,

Thời điểm đứa trẻ chợt nghĩ ra một cách hành động mới trong

một tình huống cụ thể nào đó là những thời điểm rất thú vị. Nó rất

gần với trạng thái “bừng hiểu” sẽ còn xuất hiện nhiều lần trong cuộc đời con người. Mắt trẻ sáng lên, trẻ hăm hở hành động và nỗ lực vượt khó để đạt mục tiêu. Nếu thành công, trẻ rất vui và sẽ lặp lại cách giải quyết vấn để vào những tình huống tương tự khác.

Có thể nói, trong một số trường hợp, trẻ phát hiện ra các môi quan hệ giữa các sự vật một cách ngẫu nhiên trong quá trình hoạt động với đồ vật. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, trẻ phát hiện ra các mối quan hệ này nhờ quan sát và bắt chước người lớn, hoặc nhờ người lớn tạo điểu kiện gợi mở. Ví dụ, trong trường hợp trên, nếu có người lớn bên cạnh, trẻ thường kéo tay người lớn để nghị lấy bóng. Người lớn có thể ứng xử thế nào trong trường hợp này?

Cách thứ nhất, nếu thấy người lớn lấy que khểu bóng hộ trẻ ma không giải thích gì thêm thì lần sau, khi bóng lăn vào gầm giường, trẻ lại nhờ người lớn lấy. Nếu tất cả những lần sau, người lớn vẫn khểu bóng hộ trẻ thì đứa trẻ sẽ ỉ lại và không có cơ hội tự khám phá.

Cách thứ hai, người lớn lấy que khểu bóng, đồng thời cho trẻ cùng cẩm que khểu với mình, vừa khểu vừa giải thích, thì lần sau trẻ có xu hướng bắt chước lấy que khểu bóng. Đầu tiên là bắt chước, dần dẩn trẻ sẽ tìm ra mỗi liên hệ giữa que và bóng trong quá trình thực hiện hành động này.

Cách thứ ba, người lớn giả vờ suy nghĩ tìm cách lấy bóng, lúc dùng tay, lúc dùng chân với bóng nhưng đều không được, trẻ sẽ rất thích thú quan sát và cùng tham gia hành động với người lớn. Để khích lệ trẻ tích cực suy nghĩ và hành động, người lớn không nên làm hộ trẻ luôn, mà chỉ nên gợi mở đến mức độ nhất định, còn thì để trẻ

tự tìm tòi khám phá, hoặc dan dat trẻ cùng phat | hiện ra cach giải quyết vấn để.

Theo Piaget, khi trẻ có những hành động xác lập c các mỗi i quan hệ chưa có sẵn để đạt mục tiêu là ở trẻ đã xuất hiện sơ đổ hành động trong đầu óc trước khi hành động thật. Ông mô tả một tình huống với con trai Loren của mình: Loren ngổi trước bàn, Piaget đặt trước cậu bé mẩu bánh mì xa tới mức cậu bé không với được bằng tay.

Piaget đặt bên phải cậu bé một cái que dài khoảng 25cm. Đầu tiên

Eoren. thử lấy mẩu bánh bằng tay nhưng không với tới, sau đó cậu

không thử làm như thế nữa. Một lần nữa nhìn mẩu bánh, sau đó nhìn sang cái que, * với lấy cái que và dùng nó để với mẩu bánh.

Theo Piaget, ở đoạn tuổi 1-2 tuổi, trẻ đã có khả năng tưởng tượng trong đầu những thay đổi vị trí của vật dù trẻ không (trực tiếp) nhìn thấy, và dùng những khả năng tưởng tượng trí óc, hay có thể nói là những suy đoán trong đầu để tìm kiếm những vật bị giấu.

Ví dụ, người lớn và trẻ ngổi đối điện nhau, nếu người lớn cho trẻ nhìn thấy một vật trong lòng bàn tay, sau đó giấu tay ra sau lưng, bí mật thả đổ vật ở sau lưng, rổi đứa tay về trước mặt trẻ. Trẻ sẽ mở bàn tay của người lớn ra, rếu không thấy đồ vật trong lòng bàn tay thì trẻ sẽ tìm đổ vật ở sau lưng người lớn. Điểu này chứng tỏ, trẻ có suy đoán trong đầu là người lớn đã bỏ đổ vật ở phía sau lưng.

_ Trẻ rất thích chơi các trò chơi tìm kiếm hay trốn tìm do người lớn nghĩ ra. Trẻ rất tự hào vì tìm thấy đồ vật bị giấu ở những trò chơi này. Người lớn cẩn dành thời gian chơi với trẻ, có thể làm cho trò chơi phức tạp hơn một chút và khen ngợi để kích thích tính tích cực

của trẻ.. tài "

- Từ 2 tuổi, trẻ bước vào giai đoạn tiển thao tác theo lý thuyết của Piaget, khối lượng biểu tượng trí óc được trẻ sử dụng để diễn tả các đổi tượng và sự kiện xung quanh tăng vọt..

Biểu tượng là cái dùng để thay thế một cái gì đó khác. Theo Piaget, khả năng dùng biểu tượng rõ nét nhất là việc sử đụng ngôn ngữ. Ví dụ, từ “cái cốc” dùng để chỉ vật có thể đựng nước dùng để

uống, “cái ghế” dùng để chỉ một vật có mặt phẳng dùng để ngồi.

Ngoài ra, trẻ còn dùng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi. Ví dụ, trẻ dùng cái chổi làm xe máy, giấy vụn làm thức ăn, búp bê làm em bé, các khúc gỗ làm đoàn tàu, cho búp bê ăn cháo “giả vờ”...

Mỗi dạng biểu tượng trên đểu bắt đầu xuất hiện từ khoảng 2 tuổi, nhưng chúng sẽ còn phát triển mạnh và hoàn thiện trong

những năm tiếp theo. l

Như vậy, nhờ tích cực hoạt động và nhờ có sự hướng dẫn của người lớn, trẻ dần khám phá các mối liên hệ giữa nhiều sự vật hiện tượng, lĩnh hội các phương thức hành động với chúng. Sau đó, trẻ chuyển sang thiết lập các mối quan hệ tương tự trong những điểu

kiện mới. Đứa trẻ càng được khích lệ hoạt động tích cực và giao tiếp với người lớn thì càng có điều kiện cho sự phát triển tư duy.

Trong giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, tư duy hành động của trẻ phát triển mạnh, trẻ hăng say hoạt động, chổng các khối gỗ từ to đến nhỏ thành hình tháp, lổng các con búp bê đổng dạng vào nhau, chọn lấy những đổ chơi cẩn cho một loại hình trò chơi nào đó ra khỏi hộp đổ

chơi... Hoạt động với nhiều đồ vật tương tự nhau giúp trẻ đẩn có khả năng so sánh, khái quát, xếp các đổ vật tương tự nhau vào cùng một loại. Điều này rât cẩn thiết cho sự phát triển tư duy và ngôn ngữ, vì ngôn ngữ và tư duy, luôn mang tính khái quát. Ví dụ, trẻ xếp tất cả

những cái cốc khác nhau về chất liệu, hình dáng, màu SẮC: vào một

nhóm ở trong đầu và gọi tên chung là “cái cốc”. Có thể nói, bắt đầu từ thời điểm này, sự phát triển biểu tượng, tư duy và ngôn ngữ gắn bó

chặt chẽ, không tách rời nhau tạo tiển để cho sự phát triển tư dụy hình

tượng và mầm mống cho sự phát triển tư duy ngôn ngữ sau này, - ._ Bước chuyển từ một đứa trẻ chỉ biết quờ quạng và vớ tất cả những. 8ì xung quanh để đưa vào mồm đến một đứa trẻ 3 tuổi biết nói và suy nghĩ là một bước chuyển lớn. Một nhà tâm lý. học trẻ em có nhận xét: một đứa trẻ 3 tuổi có sự phát triển trí tuệ gần với một người lớn hơn là với một đứa trẻ 12 tháng tuổi. Quả thực, trẻ 3 tuổi đã có thể tỏ thái độ, dùng lời nói để thể hiện những gì đã xảy ra, kể về những sự vật, hiện tượng xung quanh và thậm chí so sánh chúng với nhau. Cuối giai đoạn này ở trẻ bắt đầu có sự chuyển mạnh từ tư

duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng, loại tư duy diễn ra nhờ các thao tác so sánh, khái quát các hình ảnh tri giác trong đầu. Đây là bước chuyển vào trong quan trọng của sự phát triển tư duy diễn ra mạnh mẽ ở trẻ mẫu giáo.

2.5. Ngôn ngữ

Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi

- Khi gần 1 tuổi, hầu hết trẻ đã biết phát â âm những từ đầu tiên. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ đây diễn ra theo 2 hướng, một mặt hiểu ngôn ngữ của người lớn, mặt khác là hình thành ngôn ngữ tích cực của riêng mình. Thường thì việc hiểu ngôn ngữ của người khác bao giờ cũng phát triển sớm hơn việc hình thành ngôn ngữ tích cực của riêng mình.

- Vào khoảng 1 tuổi, trẻ có thể nói một vài từ và hiểu các câu đơn giản mà người lớn nói ra nhưng phải gắn trực tiếp với tình huống cụ thể. Ví dụ, trẻ có thể hiểu câu nói “cho mèo ăn nhé” khi me dang lay thức ăn cho mèo ăn ngay trước mắt trẻ.

_ Từ 12 đến 18 tháng tuổi là giai đoạn câu 1 từ, trẻ có thể nói các từ có nghĩa để thể hiện ý của mình nhưng chỉ là những từ đơn. Ví dụ:

trẻ nói “mẹ” và giơ hai tay về phía mẹ có nghĩa là “mẹ bế con”; trẻ

nói “bánh” và chỉ vào hộp bánh có nghĩa là “lấy bánh cho con ăn”,

nếu người mẹ vừa lấy bánh vừa nói với trẻ “lấy bánh cho con ăn nhé” thì trẻ rất vui, gật đầu và trả lời lap lại từ cuối cùng “nhé”. Dén 18 tháng tuổi, trẻ đã có thể phát âm gần 50 từ và bắt đầu có thể kết hợp 2 từ với nhau.

Khi trẻ được 21 tháng tuổi thường xảy ra hiện tượng "bùng nổ ngôn ngữ" do số lượng từ mà trẻ biết quá nhiểu. Hiện tượng này xảy ra ở tất cả trẻ em thuộc các nhóm ngôn ngữ và các nhóm văn hóa khác nhau (Cowley, 1997). Theo các nhà khoa học, hiện tượng này xảy ra là có nguyên nhân. Trẻ thường xuyên chỉ tay về phía các vật khác nhau và hỏi "đó là cái gì ; trẻ thích chơi với bố mẹ và người khác trò chơi gọi tên các vật. Ngoài ra trẻ bắt đầu thử phát âm các từ mà chúng nghe thấy. Nói chung trong 1 tuẩn trẻ có thể học được một

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 110 - 124)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)