Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bào thai và trẻ sơ sinh

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 76 - 86)

một cái túi dịch thể tốt cùng với cái đệm đàn hổi bằng dịch thể

mang dòng dưỡng khí va các chất dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai bào và nhau thai hoạt động bình thường, không có vi sinh vật gây nhiễm và các sản phẩm hoá chất độc hại. Phẩn lớn phụ nữ có thai sinh ra những đứa trẻ khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trẻ sơ sinh ra đời với những khuyết tật bẩm sinh. Những khuyết tật này rất đa dạng, từ những khuyết tật nhỏ trên cơ thể không có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển tiếp theo của đứa trẻ, đến những dị tật nghiêm trọng có thể gây tử vong cho trẻ sơ sinh.

Nhiều người cho rằng những khuyết tật bẩm sinh chỉ liên quan đến tính di truyển của cha mẹ, nhưng trên thực tế, chỉ có một số ít các

khuyết tật ở trẻ sơ sinh là đo tác động của riêng các yếu tố di truyền,

còn lại phần lớn là kết quả của những tương tác qua lại giữa các yếu tố di truyền và môi trường trong quá trình người mẹ mang thai hoặc trong thời gian sinh đẻ. Chúng ta cùng xem xét một số yếu tố có ảnh hưởng tới sự phát triển bào thai và trẻ SƠ sinh. ,

Tuổi người me

Vé mat sinh hoc, phần lớn những lần sinh đẻ đạt kết quả tốt nhất là ở những bà mẹ tuổi từ 20 cho đến 30. Những người mẹ ở tuổi vị thành niên (dưới 18) và những người mẹ trên 35 - 40 tuổi thường gặp nhiều rủi ro vé say thai, dé non, dé con có những

khuyết tật bẩm sinh. c si

Nguyên nhân chính về số rủi ro cao ở những người mẹ tuổi vị thành niên là cơ thể trưởng thành chưa đẩy đủ để có thể mang thai và đẻ ra đứa con khoẻ mạnh. Hơn nữa, những người mẹ tuổi vị thành niên thường không có điểu kiện kinh tế- xã hội, trình độ kém, thiếu kinh nghiệm sống, hay sử dụng những thực phẩm và dược - phẩm không an toàn cho bản thân và cho thai nhỉ, trạng thái tỉnh

thần không ổn định. |

Còn sự rủi ro đối với đứa con có mẹ trên 35 - 40 tuổi là buồng trứng của những phụ nữ này “nhiều tuổi” nên tế bào trứng có thể có các khuyết tật. Ngoài ra, sự thay đổi hoóc-môn ở các bà mẹ đứng tuổi

cũng có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Nói như vậy không có nghĩa là

những phụ nữ đưới 18 và trên 35 — 40 tuổi không thể sinh con, nhưng dù sao thì các bà mẹ cũng cẩn lưu ý ý điểu này khi quyết định sinh con.

Sức khoẻ 0à dinh dưỡng của người mẹ _

Các bà mẹ tương lai cần có thể chất bình thường và chế độ ăn

uống phù hợp thì mới có thể đẻ ra đứa con khoẻ mạnh.

Nhiều loại bệnh tật của người mẹ không ảnh hưởng đến sự phát

triển của bào thai hay thai nhị, phẩn lớn các loại vi khuẩn không thâm nhập được qua nhau thai. Nhưng rất nhiều loại virút, đặc biệt

virút của các bệnh giang mai, bại liệt và các dạng cảm cúm đểu vượt qua được rào cản nhau thai. Chúng có thể gây ra những dị tật nghiêm trọng ở bào thai, phụ thuộc vào thời điểm người mẹ bị nhiễm

bệnh và thời kỳ phát triển của bào thai.

Nếu người phụ nữ ăn uống kém, chế độ ăn uống không cân bằng, thiếu các vitamin hoặc rối loạn trao đổi chất trong cơ thể sẽ dẫn đến thiếu dinh dưỡng cho thai nhi. Các biểu hiện rõ ràng nhất về thiếu dinh dưỡng là trọng lượng thai nhi giảm, kích thước đầu và toàn thân giảm so với các chuẩn phát triển, não phát triển chậm ở những tháng cuối của thời kỳ mang thai.

Các tác động khác

Nhiều loại thuốc ban mẹ sử dụng trong thời gian mang thai có thể gây rối loạn phát triển ở trẻ. Các chất tẩy, hoá chất công nghiệp, không khí thành phố bị nhiễm bẩn có thể thâm nhập vào hệ thống nội tạng người mẹ và ảnh hưởng đến bào thai, làm tăng tỷ lệ sẩy thai.

Những phụ nữ thường xuyên sử dụng rượu, thuốc lá và các chất gây nghiện trong thời gian mang thai có thể sinh ra những đứa cón có trọng lượng và chiểu dài không đạt chuẩn, phản xạ yếu ớt hơn so với

những đứa trẻ bình thường, dễ bị kích động, khóc thét, nôn oẹ và rối

loạn điểu chỉnh nhiệt. Chúng ăn uống không ngon, ngủ kém và khả năng tập trung chú ý của chúng sau này thường kém phát triển.

3. Quá trình sinh con

Thông thường quá trình sinh đẻ chia làm ba giai đoạn: chuyển .đạ lần đầu; chuyển dạ và sinh con; thoát nhau ra.

Chuyển dạ lần đẩu: Chuyển dạ bắt đầu từ việc cổ tử cung co bóp

nhẹ nhàng, thường là 15-20 phút lại có một đợt co bóp. Tiếp theo, cổ

tử cũng co bóp mạnh lên và ngày càng thường xuyên hơn, mỗi lần kéo dài khoảng 3 - 5 phút. Khi chuyển đạ, sản phụ có thể tự giúp mình bằng cách cố gắng tự thư giãn.

ôi khi, nhất là với những lần đẻ đầu tiên, ở người phụ nữ có sự chuyển dạ không thật. Để phân biệt được những lần chuyển dạ không

thật với chuyển đạ thật, có thể yêu cầu người mẹ tương lai đi lại một chút, chuyển đạ thật thường đau hơn, trong khi chuyển da không thật chỉ đau nhẹ.

Có hai sự kiện diễn ra trong thời gian chuyển dạ. Thứ nhất là màng nhẩy bao phủ tử cung không còn nữa (quá trình này gọi là md tử cung) và có thể làm cho máu chảy ra chút ít, Thứ hai là màng ối hay màng bọc thai nhỉ vỡ ra, và một dịch thể nước ối chảy ra ngoài theo đường đẻ (hiện tượng này cũn gọi là ứỡ nước Gi). |

Chuyén da.va sinh con: Giai doan thir hai cua quá trình sinh con bắt đầu từ những co bóp mạnh hơn, thường xuyên hơn và kết thúc bằng việc sinh đứa con ra đời. Khi cổ tử cung hoàn toàn mở ra thì có gần 10 ~ 12 lần các cơ bắp co bóp thường xuyên và mạnh để đẩy đứa trẻ ra. Giai đoạn này thường chiếm từ 10 đến 40 phút và cũng tương tự như chuyển dạ, nó kéo dài hơn trong những lần đẻ đấu tiên. Co bóp diễn ra thường xuyên mỗi lần 2 — 3 phút. Đợt co bóp này kéo dài và mạnh hơn so với co bóp cổ tử cung diễn ra trong giai đoạn đầu.

Đến lúc này, nếu người mẹ tỉnh táo, họ có thể tự giúp mình đẻ dễ dang hon bang cach lay hoi phi: hop va ran dé theo mi lan co bóp.

Thường thì đầu đứa trẻ ra trước. Thóp được gắn kết chỉ bằng xương sụn giúp đứa trẻ đi qua đường đẻ đễ dàng. Trước tiên xuất hiện đỉnh đầu, sau đó cái đầu nhỏ thoát dẩn ra bên ngoài theo mỗi lần co bóp và cuối cùng các bác sĩ, y tá có thể nắm lấy đầu của trẻ, nhẹ nhàng đỡ trẻ ra. Trong phần lớn các trường hợp đẻ bình thường, khi cái đầu đứa trẻ ra rổi thì đứa trẻ được xoay theo phía để cả thân nó lọt qua được đễ dàng hơn.

Thoát nhau ra: Giai đoạn thứ ba của sinh đẻ gọi là thoát nhau ra.

Giai đoạn này trên thực tế không có gì nghiêm trọng và kéo dài gần 20.phút sau khi đẻ. Nhau, các cuống nhau và cùng với nó là các mô thoát ra ngoài. Sản phụ có thể tự tác động vào quá trình này. Nhau .và cuống nhau sau khi ra khỏi cổ tử cung cần được theo đõi xem có các khuyết tật gì không vì đôi khi có các dấu hiệu về những tổn thương ở trẻ so sinh.

Kinh nghiệm sinh con: Mặc dù quá trình sinh đẻ về Smit sinh hoc là một quá trình có tính phổ quát, song việc sinh con không giống

Người ta thường cho rằng sinh đẻ là một quá trình vô cùng đau đớn, cho nên người mẹ thường được gây tê hoặc uống một liều thuốc giảm đau. Trên thực tế; cảm giác của người phụ nữ khi đẻ con phụ thuộc vào trạng thái tâm lý và hiểu biết của họ về quá trình sinh đẻ.

Việc sinh nở sẽ diễn ra nhẹ nhàng và nhanh chóng nếu cả cha lẫn mẹ đều hình dung điều gì đang chờ đợi họ ở mỗi giai đoạn. Khi đó, họ

có thể chủ động điều khiển tốt hơn quá trình sinh đẻ. |

Hiện nay ở nhiều bệnh viện trên thế giới, người ta cho phép người cha hoặc người trợ giúp được có mặt khi sản phụ trở dạ và đẻ. Một số bệnh viện còn mở các fruns tâm trợ giúp sinh dé chuyên dụng đặt ngay trong các bệnh viện hoặc gần bệnh viện. Các trung tâm nảy được tổ chức giúp cho toàn bộ quá trình sinh đẻ từ các lần

chuyển dạ đầu tiên cho đến khi đứa trẻ ra đời, kể cả giai đoạn khôi

phục sức khoẻ của người mẹ diễn ra tốt đẹp: Ở đây, các yếu tố riêng biệt, yên tĩnh và thân mật của việc sinh đẻ trong gia đình được kết hợp một cách hài hoà với an toàn và hỗ trợ y tế. Các trung tâm trợ giúp sinh đẻ thường chuẩn bị tốt cho việc sinh đẻ và nhanh chóng đưa mẹ và con trở về nhà. Họ khuyến khích me và con cùng ở một phòng, điểu đó góp phần hình thành các mỗi liên hệ tinh ‹ cảm đầu

tiên giữa mẹ con.

4. Gia đình có thành viên mới:

Sinh con. n không chỉ là một sự kiện sinh học r mà là. một sự y kiện

mang ý nghĩa tâm lý và xã hội to lớn đối với mỗi gia đình. Đứa trẻ vừa sinh ra đã nhanh chóng báo hiệu về sự có mặt của mình thông qua những như cầu, tình trạng sức khoẻ, cá tính. Còn cha mẹ, ông bà, anh chị và những người thân khác bắt đầu dõi theo sự phát triển của trẻ hàng ngày, hàng giờ.

Thời gian đầu đứa trẻ trông không được đẹp lắm, đầu và bụng hơi to so với chân tay. Thêm vào đó các bộ phận sinh dục ngoài của - trẻ sơ sinh khá to do có hoóc-môn từ mẹ chuyển vào cơ thể đứa con trước khi đẻ. Khoảng 3 - 4 tháng sau, đứa trẻ bắt đầu trở nên mũm mĩm với làn da mềm mại và rất đáng yêu.

.__ Bước đầu hình thành sự sắn bó: Sự gắn bó là mối liên hệ cảm xúc giữa cha mẹ.và con cái. Nó chứa đựng các yếu tố như tình cảm gần gũi và tình yêu thương. Mối liên hệ qua lại đó giữa cha mẹ và con cái bắt đầu hình thành từ khi đứa trẻ sinh ra và tiếp t tục ic phát triển sâu sắc trong thời kỳ ấu thơ của trẻ.

Đầu tiên là sự tiếp xúc cơ thể khi cha mẹ ôm ấp và nựng con.

Thường thì trẻ so sinh phát ra tiếng khóc đầu tiên, phổi tràn đây

không khí, rồi ngủ thiếp bên mẹ. Sau khi nghỉ một lúc trẻ có thể gang

nhìn mặt mẹ hay bố, có cảm giác rằng nó đang tạm ngừng và lắng nghe. Điểu đó làm chọ bố mẹ vui sướng và bắt đầu nói chuyện với một con người vừa mới ra đời, Họ chăm chú ngắm nhìn con và thường rất ngạc nhiên thú vị với những bộ phận nhỏ bé nhưng hoàn hảo của nó. Nhiều trẻ sợ sinh ngay lập tức tìm đến vú mẹ và bắt đầu bú, thỉnh thoảng ngừng lại để thở. Người mẹ ôm trẻ, nhìn vào mắt và nói chuyện với trẻ. Sự tiếp xúc cơ thể với trẻ cũng có tác động đến các quá trình sinh lý quạn trọng trong cơ thể người mẹ. Khi đứa trẻ liếm hay bú sữa mẹ, ở người mẹ tăng. hoóc-môn kích thích tạo sữa, tăng hoóc-môn gây co bóp dạ con. Bú mẹ là tốt nhất đối với trẻ sơ sinh.

Đầu tiên sữa 0. vú mẹ còn chưa có, thay vào đó có một thứ nước gọi là sữa non. Thứ nước này làm sạch hệ thống tiêu hoá của đứa trẻ, và là chất để kháng cho trẻ.

Mỗi quan hệ giao tiếp sớm của cha mẹ với con cái có ý nghĩa tâm lý quan trọng để củng cố mối liên hệ gắn bó họ với nhau. Những người cha cũng nhanh chóng gắn bó với trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy, những người cha sớm có mối quan hệ qua lại với con mình sẽ tích cực chăm sóc và chơi với chúng nhiều hơn. -

CAU HOI ON TAP

Câu 1. Anh/ chị hãy nêu các giai đoạn phát triển trong bào thai, Câu 2. Trình bày quá trình thụ thai và ghép mô.

Câu 3. Sự phát triển bào thai thời kỳ phôi và nguyên nhân của sấy thai.

Câu 4. Trình bày sự phát triển các cầu trúc chức năng cơ bản ở thai nhỉ.

Câu 5. Các xu hướng phát triển chung của thai nhỉ. |

Câu 6. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bào thai và trẻ sơ sinh.

Bài 5

SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CUA TRẺ ` TỪ KHI SINH ĐẾN 1 TUỔI

1. Hai tháng đầu t tiên (és SƠ a sinh)

Đứa trẻ được sinh ra đời - đó là bước chuyển từ bóng tối ra ánh sáng, từ môi trường ấm áp không đổi trong bụng mẹ ra môi trường

thường xuyên thay đổi của thiên nhiên, từ cuộc sống chung với mẹ ra

cuộc sống riêng của một cá nhân. Nếu như không có người lớn bên cạnh, đứa trẻ vừa sinh ra chỉ có thể sống trong một thời gian ngắn.

Trẻ bước vào môi trường hoàn toàn mới và cần một thời gian nhất định để thích ứng. Trong những tuần đầu, trọng lượng cơ thể

của trẻ thường giảm đi chút ít, mọi hoạt động cơ thể chưa ổn định,

các cử động còn hỗn loạn. Người ta gọi đó là giai đoạn khủng hoảng mới sinh. Tiêu chí sinh lý của sự kết thúc khủng hoảng mới sinh là sự xuất hiện khả năng tập trung thị giác và thính giác, khả năng hình thành các phản xạ có điều kiện đối với các kích thích thị giác và thính giác. Tiêu chí y học của sự kết thúc khủng hoảng mới sinh là sự lãy lại trọng lượng cơ thể bằng trọng lượng của trẻ khi

mới sinh, chứng tỏ các hệ thống chức năng sinh lý của trẻ có hoạt .

động sống bình thường.

Trong suốt hàng trăm nghìn năm của sự tiến hoá, ở trẻ sơ sinh đã biến mất gần hết những hành vi bản năng giúp nó có thể tự sống sót như các con vật khác. Sự biến mất các hình thức hành vi bản năng, một mặt, làm cho trẻ vừa sinh ra không thể sống sót nếu chỉ có một mình, mặt khác, nó là món quà của tạo hóa, giúp con người có

khả năng mở rộng khả năng phát triển của mình hơn bất kỳ một loài

động vật nào khác, tạo khả năng thích nghỉ linh hoạt với môi trường tự nhiên và xã hội phức tạp luôn biển động. Hầu như tất cả hành vi và các quá trình tâm trí của trẻ không có sẵn từ lúc mới sinh và sẽ được hình thành dan trong cuộc sống.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em khi.sinh :ra_ chi.cd những phản xạ tự nhiên của cơ thể và được chia ra làm 2 loại: phản:

xạ tự vệ và các phản xạ lai giống...

Phản xạ tự vệ là các phản ứng của cơ thể cần 'thiết cho sự thích nghỉ với môi trường sống. Ví dụ: Phản xạ hô hấp (hít thở); Phản xạ - tìm và bú tí mẹ (nếu. khẽ chạm vào má trẻ, trẻ sẽ phản ứng lại động tác đó bằng. việc há mém nhu thé dang tim vu me, con néu dé ngon tay vao miéng trẻ thì trẻ bắt đầu bú, mút ngón tay); Phản. xạ của đồng tử mắt (đồng tử mắt của trẻ sẽ nhẹo lại khi gặp ánh sáng mạnh hoặc khi bụi bay vào mắt và mở rộng ra khi ở trong bóng tối hoặc khi v vừa ngủ dậy)... là những phản xạ tự vệ, cần thiết cho sự sống.

- Các phản xạ lai giống đã từng đóng một vai trò quan trọng ở một giai đoạn nào đó của sự tiên hóa của loài người, nhưng ¢ ở người chúng, không có giá trị về mặt sinh tổn và về cơ bản sẽ mất đi trong vòng vài tháng đầu. Ví dụ, phản xạ Moro (khi trẻ sơ sinh nghe những â âm thanh lớn, trẻ thường dang tay ra để cố gang nắm lấy ai đó, vật gì đó như SỢ bị ngã, sau đó tay của trẻ dẩn trở về tư thế ban đầu, phản : xạ này mất đi khi trẻ được gần 4 tháng tuổi); phản xạ nắm tay (khi đặt ngón tay hay 1 chiếc bút chì vào lòng bàn tay trẻ, trẻ sẽ nắm chặt lấy chiếc bút:

hoặc ngón tay của bạn, nếu cứ cố tình kéo ra thì trẻ càng nắm chặt

hơn, loại phản xạ này chỉ mất khi trẻ được 5 tháng tuổi),... Nếu như

trong một thời gian dài các phản xạ lai giống không bị mất đi thì đó là đấu hiệu hệ thần kinh của trẻ phát triển không bình thường.. _ -

Những phản xạ có điểu kiện đầu tiền xuất hiện vào cuối tháng _

thứ nhất. Ví dụ, phản xạ với tư thế cho bú (vừa mới được mẹ bế

ngang ở tư thế chuẩn bị bú, trẻ đã .hóng môi di tìm ti me). Cac phan

xa có điều kiện khác, nhìn chung, : xuất hiện muộn hon.

Não bộ của trẻ em lúc mới sinh chưa được hình thành: day đủ, đặc biệt là vỏ não chưa phát triển đẩy đủ nên đời sống tâm lý của trẻ phần lớn gắn với những trung tâm dưới vỎ. Các cảm. giác chưa phan hóa va thường gắn liển voi cac xuc cam.

Tuần thứ 2 và thứ 3 xuất hiện sự tập trung thính; giác. Âm thanh đột ngột (tiếng vỗ tay to, tiếng cánh cửa đập mạnh) làm trẻ đột nhiên

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lý học phát triển (Trang 76 - 86)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(323 trang)