Quan điểm của K. Marx về tôn giáo

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 125 - 129)

Công lao to lớn của Marx và Engels là phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội.

Marx và Engels đã chứng minh, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, do đó, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm nó trong hiện thực vật chất. Chính vì vậy, đứng vững trên lập trường duy vật lịch sử để lý giải vấn đề về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo, theo đó, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định, mọi hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội, xét cho đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất. Tôn giáo là một hiện tượng tinh thần của xã hội và do vậy, nó là một biểu hiện của hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Nhưng khác với các hình thái ý thức xã hội khác, sự phản ánh hiện thực của tôn giáo là sự phản ánh mang tính đặc thù, đó là sự phản ánh “hoang đường” về thế giới khách quan. Theo chủ nghĩa Marx “tôn giáo là sự tự ý thức đã bị tha hóa”, như vậy, tôn giáo chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng bởi đầu óc và trái tim của con người, nhưng cái sản phẩm ấy lại trở nên xa lạ với chính con người và nó quay trở lại thống trị con người. Do đó, tôn giáo là sự tha hóa của nhận thức con nguời về thế giới và về chính bản thân mình hay nó là sự tự ý thức đã bị tha hóa của con người. Engels đã làm rõ quan điểm này của Marx khi đưa ra nhận định “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”1, tôn giáo là những

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.20, tr.437.

sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nội dung đó sang cho “bóng ma”. Thượng đế ở bên kia thế giới, thượng đề này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệ của mình.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx đã quan tâm đến cơ sở trần tục của tôn giáo ngay từ những buổi đầu. Vạch ra những hạn chế của các nhà tư tưởng trước đó khi bàn về tôn giáo, đồng thời Marx đã chỉ ra rằng, cái xã hội sản sinh ra tôn giáo không phải là một xã hội trừu tượng mà là một xã hội cụ thể thuộc về một hình thái nhất định trong lịch sử. Như vậy, đối với Marx, cơ sở trần tục của tôn giáo được quan niệm một cách cụ thể sinh động và cái cơ sở trần tục đó đã tự tách đôi và tự tha hóa thành thế giới tôn giáo. Marx nhấn mạnh cái thế giới tôn giáo “chỉ có thể được giải thích bằng sự tự chia cắt và tự mâu thuẫn của cơ sở trần tục ấy.

Do đó, trước hết phải hiểu bản thân cơ sở trần tục trong mâu thuẫn của nó và sau đó cách mạng nó trong thực tiễn bằng cách xóa bỏ mâu thuẫn”1. Và cái cơ sở trần tục của tôn giáo ấy chính là một xã hội cụ thể của con người, nhưng xã hội cụ thể ấy lại kết cấu phức tạp với nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần, những con người ấy lại là con người thuộc về một giai cấp nhất định. Vì vậy, cái yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của tôn giáo nó thuộc về “cơ cấu kinh tế của xã hội luôn luôn là cái cơ sở hiện thực mà xét đến cùng ta phải dựa vào mới giải thích được tất cả thượng tầng kiến trúc là chế độ pháp quyền và chế độ chính trị cũng như quan niệm tôn giáo triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định”2. Có thể thấy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx coi sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là điều kiện tất yếu của đời sống con người, mà còn là cơ sở khách quan quyết định tất cả tính nhiều vẻ của các quan hệ xã hội và các hiện tượng xã hội trong đó có tôn giáo.

Tuy nhiên, Marx cũng thấy sự tác động trở lại của tôn giáo đối với đời sống xã hội của con người, sự tác động của tôn giáo ấy phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định. Sự tác động trở lại của tôn giáo được Marx trình bày trong quan điểm của mình “sự khốn cùng của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng hiện thực ấy”3. Ở đây, Marx vừa khẳng định tôn giáo là sản phẩm của đời sống hiện thực, phản ánh đời sống hiện thực ấy nhưng đồng thời lại vừa khẳng định tôn giáo có sự tác động trở lại đối với đời sống hiện thực, mà sự tác động trở lại của tôn giáo ở đây là sự phản

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.21.

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.19, tr.303.

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.570.

kháng tình trạng khốn cùng của đời sống hiện thực xã hội. Biểu hiện của sự phản kháng đó là ở thái độ bất mãn không chấp nhận của đông đảo những người bình dân và bị áp bức đối với cuộc sống đau khổ mà người dân không thể chịu đựng được và họ mong muốn được giải phóng khỏi xiềng xích của cuộc sống hiện thực ấy.

Sự tác động của tôn giáo đến đời sống hiện thực còn được thể hiện trong câu nói bất hủ của Marx “tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”1, cho thấy tôn giáo chính là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, tôn giáo là vòng hào quang thần thánh trong cái biển khổ ấy, là bông hoa tưởng tượng che phủ lên trên xiềng xích thực tế của họ. Nhưng Marx cũng chỉ ra rằng, thuốc phiện này không chỉ có tính chất ru ngủ mà còn có tính chất thức tỉnh “điều nghịch lý là, thay vì tác động ru ngủ, thuốc phiện lại gây tác động thức tỉnh”2, do đó, không thể chỉ dùng thuốc giảm đau mà quan trọng hơn phải thấy rõ sự đau khổ hơn nữa, không thể thỏa mãn với hạnh phúc ảo tưởng mà phải đứng lên cầm vũ khí giành lại hạnh phúc thật sự của mình, đã đến lúc cần phải lật đổ, vào lúc này tôn giáo chỉ làm giảm đi ý chí căm thù và quyết tâm đấu tranh của quần chúng nhằm lật đổ chế độ xã hội đã lỗi thời, để họ lãng quên con đường cách mạng nhằm cải tạo xã hội để xây dựng hạnh phúc thật sự của con người trên trần thế, “việc phê phán tôn giáo dẫn đến học thuyết cho rằng con người là sinh vật tối cao đối với con người, do đó dẫn đến cái mệnh lệnh tuyệt đối đòi phải lật đổ tất cả những quan hệ trong đó con người là một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bất lực, bị khinh rẻ”3.

Tôn giáo là hiện tượng cần thiết cho con người, là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, nhu cầu của sự phát triển xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định, các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx đã nhận định “Tôn giáo do con người sáng tạo ra, bản thân những người này cảm thấy được nhu cầu phải có tôn giáo của quần chúng”4, “đâu là lối thoát, đâu là sự cứu vãn đối với những người bị nô dịch, những người bị áp bức và những người rơi vào cảnh bần cùng… lối thoát như vậy đã tìm thấy rồi, nhưng

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.570.

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.15, tr.682.

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.581.

4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.19, tr.438- 439.

không phải ở thế gian này. Với tình hình hiện tại, lối thoát chỉ có trong lĩnh vực tôn giáo”1.

Khi Marx nhận định về tôn giáo “là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”2, đó là tâm hồn của thế gian không có tâm hồn, là hạnh phúc ảo tưởng mà con người cần có trong cái thế giới không có hạnh phúc thật sự ấy đã cho thấy rõ cái thế giới con người không hoàn thiện làm sản sinh ra tôn giáo ấy lại rất cần có tôn giáo và ngược lại tôn giáo cũng đã đáp ứng những yêu cầu của con người trong cái hiện thực ấy. Nhưng chính xuất phát từ đó mà Marx đặt ra rằng, chỉ có thể xóa bỏ cái thế giới trần tục sản sinh ra tôn giáo bằng thực tiễn cách mạng thì mới có thể giải phóng cho con người khỏi những xiềng xích tinh thần của tôn giáo. Chỉ có điều không phải lúc nào cũng xuất hiện tình thế cách mạng ngay được và cái thế giới sản sinh ra tôn giáo ấy không phải lúc nào cũng đứng bên bờ vực của sự sụp đổ. Do vậy, trong khi cái xã hội còn có những thời kỳ ổn định và cần có sự ổn định về chính trị xã hội để phát triển, thì lúc đó trong một phạm vi nhất định tôn giáo còn cần thiết cho cái xã hội ấy, còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân trong cái xã hội ấy.

Những con người yếu đuối và đau khổ trong cái xã hội ấy cần có nơi bấu víu, nương tựa để tiếp tục tồn tại, lấy lại sự cân bằng về tâm lý, cần có niềm tin dù là vào một sự cứu vớt của sức mạnh siêu nhiên nào đó. Tôn giáo mặt nào đó đã đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận những con người như vậy.

Chính vì vậy, khi phê phán tôn giáo để giải phóng con người khỏi những xiềng xích tinh thần của tôn giáo, các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx đã dự đoán một ngày nào đó trong tương lai tôn giáo sẽ mất đi và không còn tồn tại với tư cách là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân nữa.

Do vậy, khi xem xét vấn đề tương lai của tôn giáo không tách rời việc xem xét tương lai của xã hội cụ thể đã sản sinh ra tôn giáo, không tách rời việc xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của tôn giáo.

Ngay từ đầu, Marx đã chỉ rằng không chỉ phê phán những quan niệm tôn giáo mà phải tiến lên phê phán cái xã hội cụ thể đã sản sinh ra tôn giáo.

Bởi vì theo Marx, muốn đoạn tuyệt với tính hạn chế về mặt tôn giáo của mình, giải phóng khỏi xiềng xích tinh thần của tôn giáo, bác bỏ tôn giáo về mặt lý luận thì chưa đủ vì cái cơ sở vật chất của tôn giáo vẫn làm cho tôn giáo tiếp tục tái sinh. Do đó, việc giải phóng con người khỏi ảo tưởng tôn giáo phải từ giải phóng chính trị, giải phóng con người nói chung.

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.22, tr.686- 687.

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.570.

Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx, tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội tồn tại mãi mãi với thời gian, mà trong tương lai nó sẽ suy tàn và mất đi. Nhưng sự suy tan và mất đi đó không diễn ra một cách tự động và tức thời, cũng không phải đơn thuần là kết quả của sự phê phán về mặt lý luận cũng như của sự tiến bộ về mặt nhận thức. Tôn giáo chỉ mất đi khi nào cơ sở vật chất của nó không còn nữa, khi mà cái thế giới trần tục sản sinh ra tôn giáo đã được cái tạo triệt để bằng con đường cách mạng.

Nhưng để tôn giáo không còn tồn tại như Marx đã nói đòi hỏi quan hệ giữa người với người phải hết sức rõ ràng hợp lý, cùng với quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng hết sức rõ ràng hợp lý “nói chung sự phản ánh có tính chất tôn giáo của thế giới thực tại chỉ có thể mất đi khi nào mà những quan hệ trong đời sống thực tiễn hàng ngày của con người được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ ràng và hợp lý giữa người ta với nhau và với thiên nhiên”1. Con người phải nắm được quy luật khách quan và phát triển sức sản xuất tới trình độ cao để có thể làm chủ được tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Và chắc chắn rằng, điều này không tự xuất hiện một cách dễ dàng sau khi xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và chế độ tư hữu, bởi chế độ tư hữu chỉ là một trong những nguồn gốc của tôn giáo mà thôi. Nếu như mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên không rõ ràng và hợp lý, cơ sở vật chất của xã hội chưa đầy đủ, xã hội chưa sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch và con người chưa làm chủ được chính bản thân con người trong mọi việc thì tất cả những điều này còn tạo ra sự tồn tại của tôn giáo.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 125 - 129)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(258 trang)