Khẳng định những giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội sẽ làm sáng tỏ hơn xu thế tất yếu lên chủ nghĩa xã hội của thời đại hiện nay. Khẳng định giá trị của học thuyết càng làm sáng rõ hơn tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường tiến lên CNXH và định hướng quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế, phù hợp với Việt Nam”2. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến tính tất yếu, khách quan của việc bỏ qua tư bản chủ nghĩa và các điều kiện để thực hiện được vấn đề đó ở Việt Nam.
Đối với nước ta, con đường bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa vẫn là tất yếu và có khả năng thực hiện. Mặc dù, “tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng, v.v. tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực”3, nhưng chắc chắn, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta sẽ tất thắng:
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.12.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.69.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.71.
Một là, kế thừa truyền thống và những kinh nghiệm cách mạng đã tích luỹ, trải qua thể nghiệm tìm tòi, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, Đảng ta đã xây dựng được đường lối đổi mới đúng đắn, hình thành được những nét chủ yếu quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Công cuộc đổi mới do Đảng chủ trương và tổ chức thực hiện mấy năm qua đã thu được thành quả to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, đất nước đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, để từng bước vượt qua nước nghèo, tiến lên giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Hai là, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tuy có bộ phận thoái hoá biến chất, giảm ý chí chiến đấu, nhưng số đông vẫn là những người trung thành với sự nghiệp cách mạng, nhất trí với đường lối của Đảng, có ý chí biến đường lối đó thành hiện thực. Nhiều người đã trải qua rèn luyện gian khổ mấy chục năm chiến đấu, họ gắn bó cuộc đời với Đảng, với dân tộc và chế độ. Điều quan trọng là Đảng ta đoàn kết, trung thành với sự nghiệp cách mạng, vững vàng về chính trị, có khả năng lãnh đạo đất nước, đối phó với những khó khăn, thử thách.
Ba là, nhân dân ta rất có tinh thần cách mạng, có lòng yêu nước, gắn bó với chế độ, với Đảng. Qua các sự kiện diễn ra ở một số nước, nhiều người thấy rõ, đi theo con đường của các nước đó thì thành quả cách mạng sẽ bị xoá sạch, đất nước sẽ rối loạn, quyền làm chủ của nhân dân sẽ mất, cuộc sống của bản thân, gia đình họ sẽ bị uy hiếp.
Ngày nay luận điểm của C.Mác về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên dần trở thành hiện thực.
Điều đó có được, một mặt học thuyết phản ánh đúng quy luật phát triển trong nội tại của xã hội và mặt khác nhờ những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội phát triển đến trình độ chín muồi, trong đó trực tiếp nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển và tiến bộ của xã hội là biểu hiện rõ ràng nhất của “quá trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội”, đồng thời cũng khẳng định tính đúng đắn, khoa học trong luận điểm này của C.Mác.
Việt Nam đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta có sơ sở khoa học để tin tưởng rằng, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta - cả trong điều kiện hiện nay - vẫn là tất yếu và có khả năng thực hiện.
QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC HỌC TẬP CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga*
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua kể từ khi triết học Mác - Lênin ra đời vào cuối thế kỷ XIX, có quá nhiều sự thay đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội loài người trong đó có sự đổi thay của các học thuyết, hệ tư tưởng. Tuy nhiên cho đến nay, những giá trị của học thuyết Mác - Lênin vẫn luôn trường tồn và có một vị trí vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình cách mạng của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Tại Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường cho mọi hành động Đảng và Cách mạng Việt Nam. Việc tìm hiểu và học tập về chủ nghĩa Mác - Lênin là việc làm vô cần thiết và ý nghĩa không chỉ đối với cán bộ, Đảng viên mà đối với tất cả mọi người trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn của đất nước.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc bồi dưỡng lý luận cho cán bộ Đảng viên và nhân dân trong đó có việc giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong nhiều bài viết, bài nói của mình Người đã nhấn mạnh đến vai trò, mục đích của việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp học để đạt mục đích đó.
Thứ nhất, tại sao phải học chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong tác phẩm Đường cách mệnh xuất bản năm 1927, Nguyễn Ái Quốc trích câu nói nổi tiếng của V.I.Lênin trong tác phẩm Làm gì? và Người đặt câu hỏi: “Cách mệnh, trước hết phải có cái gì?”. Và Người trả lời rõ rằng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”1.
Tại sao Bác lại khẳng định như vậy?
* Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.267.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên thế giới tồn tại vô vàn các học thuyết, chủ nghĩa như học thuyết Nho giáo đã tồn tại từ lâu, chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, học thuyết tam quyền phân lập của các nhà tư sản phương Tây… nhưng Bác lại chọn chủ nghĩa Mác - Lênin là nòng cốt lý luận của Đảng, là kim chỉ nam của Đảng. Bởi lẽ chỉ có Chủ nghĩa Mác - Lênin mới đặt ra mục tiêu lý tưởng một cách rõ ràng là giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt. Đây là khát vọng chân chính của toàn nhân loại ở khắp nơi trên thế giới. Bởi lẽ chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới đứng trên lập trường duy vật, cách mạng triệt để mang tính khoa học sâu sắc. Các quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin đều xuất phát từ thực tiễn, từ việc phát hiện ra quy luật và làm theo quy luật.
Từ việc xác định chủ nghĩa Mác - Lênin “không những là kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản”. Người đặt ra nhiệm vụ của những người cách mạng là phải biết, phải học về chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ hai, học chủ nghĩa Mác - Lênin để làm gì?
Trước hết, học chủ nghĩa Mác - Lênin để có cơ sở lý luận vững chắc từ đó vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Trong bài nói chuyện với lớp bồi dưỡng đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định:
“Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng. Vì vậy, các cô, các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”1,2. “Chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”1.
Bên cạnh đó, học chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao đạo đức cách mạng.
“Để cân nhắc mọi hoàn cảnh phức tạp, nhìn rõ các mâu thuẫn, để giải quyết đúng các vấn đề, thì chúng ta phải cố gắng học tập lý luận Mác - Lênin. Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”2.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.497.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.299.
Người lại nói thêm “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”1.
Thứ ba, học chủ nghĩa Mác - Lênin như thế nào?
Muốn học tập tốt thì phải có phương pháp đúng. Và phương pháp cơ bản mà Người đã chỉ ra áp dụng với mọi lĩnh vực là “học phải đi đôi với hành”. “Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”2.
Theo Người, học chủ nghĩa Mác - Lênin “không phải học để thuộc lòng từng câu, từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc” mà chúng ta “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng… giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế”3.
Hiện nay, công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung và công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng là một trong những vấn đề vô cùng ý nghĩa và cần thiết. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” là môn học bắt buộc trong chương trình khung đào tạo của tất cả các ngành bậc Đại học, Cao đẳng ở nước ta. Môn học này trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin; học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, thái độ của sinh viên khi tham gia môn học này vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều sinh viên chưa nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của môn học. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy môn học này, người dạy có thể vận dụng những quan niệm của Hồ Chí Minh về việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin để đạt được hiệu quả cao hơn. Trước hết, cần giải thích cho sinh viên rõ mục tiêu của môn học là gì, tại sao sinh viên phải học chủ nghĩa Mác - Lênin, học để làm gì, học để vận dụng vào thực tiễn ra sao và phương pháp học như thế nào là thích hợp để sinh viên có động cơ và thái độ học tập đúng đắn hơn.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.300.
2 Hồ Chí Minh về vấn đề học tập, NXB Trẻ, 2007, tr.30.
3 Hồ Chí Minh về vấn đề học tập, NXB Trẻ, 2007, tr.30.
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY ThS Dư Ngọc Quỳnh Như
Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu nổi bật và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế giới hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của nó không chỉ được minh chứng bởi những biến đổi trong thế kỷ XIX, mà còn cả trong thế kỷ XX với cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Thời đại ấy vẫn đang là chiều hướng vận động, phát triển của lịch sử thế giới ngày nay.
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, cách mạng khoa học - công nghệ, sự bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức, cùng với sự biến đổi dồn dập, khó lường trên nhiều lĩnh vực, đang là những yếu tố tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, hối thúc mạnh mẽ các quốc gia phải ra sức đổi mới, chủ động hội nhập, tìm kiếm cho mình triết lý và mô hình phát triển phù hợp. Sự khác biệt, đấu tranh ý thức hệ không mất đi, mà còn gay gắt và phức tạp hơn. Song, xu thế quan hệ, hợp tác giữa các nước là cùng tồn tại, cùng hợp tác, cạnh tranh và đấu tranh, song phương và đa phương, là đặc điểm của thế giới ngày nay. Trong tình hình đó, chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là sự quan tâm của những người cộng sản và các nước lựa chọn con đường phát triển CNXH, mà còn thu hút sự quan tâm nghiên cứu, vận dụng của những người không theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xét trên bình diện ý thức hệ. Với một cách nhìn đa chiều, thái độ khách quan, khoa học, tôn trọng sự thật lịch sử, chân lý và đạo lý, những nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin đều có chung nhận định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ tinh thần đến phương pháp của nó, đều nhất quán với quan điểm thực tiễn và phát triển.
Đó là một hệ thống mở chứ không đóng kín, động chứ không tĩnh, thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với phép biện chứng duy vật, luôn được bổ sung và phát triển, dung nạp vào mình những thành tựu lý luận mới và làm mới những nhận thức lý luận để phù hợp với đời sống hiện thực. Đó là những tổng quát về hệ giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã được minh chứng trên nhiều lĩnh vực, cả về lý luận và thực tiễn. C.Mác - Ph.Ăngghen đã đưa ra những luận chứng khoa học về địa vị và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân (GCCN) hiện đại, xây dựng nên nguyên lý xuất phát của CNXH khoa học, thực
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh
hiện bước chuyển lý luận CNXH từ không tưởng tới khoa học, làm nên thắng lợi của CNXH trên địa hạt lý luận.
Đặc biệt là, trong quá trình xây dựng CNXH, V.I.Lênin đã làm sâu sắc hơn “lý luận phát triển rút ngắn” và “phương thức quá độ gián tiếp”
tới CNXH, phù hợp với các nước bỏ qua chế độ TBCN. Ông đã áp dụng
“chính sách kinh tế mới” (NEP) thay thế “chính sách cộng sản thời chiến”; giải phóng lực lượng sản xuất thông qua dân chủ hóa kinh tế, áp dụng đòn bẩy kinh tế bằng kích thích lợi ích vật chất, kinh tế nhiều thành phần... nên mang lại hiệu quả cao trong phát triển sản xuất, kinh tế.
Những tư tưởng và luận đề của NEP vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa đối với cải cách, đổi mới CNXH ngày nay. Các nhà sáng tạo ra chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi học thuyết mình nêu ra là chân lý tuyệt đối, liều thuốc linh ứng có sẵn, câu trả lời vạn năng cho mọi tình huống của cuộc sống. Đó chỉ là những gợi ý về phương pháp, còn việc áp dụng, vận dụng nó vào thực tiễn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực sáng tạo của những người cách mạng, phù hợp với những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, không thể máy móc, giáo điều. V.I.Lênin lưu ý rằng, thực tiễn không ngừng biến đổi và thay đổi, phong phú, đa dạng và cao hơn lý luận. Con người và tư tưởng của con người, kể cả những thiên tài, vĩ nhân cũng đều là sản phẩm của lịch sử, bị những hoàn cảnh, thời đại lịch sử chi phối, chế ước.
Như đã nói, những giá trị tinh túy, bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin nằm ở quan điểm, phương pháp, mà linh hồn của nó là phép biện chứng. Nắm lấy những quan điểm và phương pháp đó, chúng ta có trong tay chìa khóa để tìm lời giải cho những vấn đề đặt ra ở thời hiện đại và đương đại. Vì lẽ đó, luận điểm: “Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp trong thế kỷ XIX, cùng lắm trong thế kỷ XX chứ không còn phù hợp trong thế kỷ XXI”, là cách nhìn chủ quan, thiên kiến. Một mặt, nó không thấy giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, không thấy thực tiễn lịch sử đang diễn ra. Thực tiễn ấy chẳng những không hề phủ nhận mà còn khẳng định, xác tín rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn cần thiết cho cuộc sống của thế giới nhân loại ngày nay; rằng, không thể hình dung được thế kỷ XXI sẽ ra sao, nếu không tính đến sự hiện diện của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn sinh động hiện nay đã minh chứng cho điều này.
Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới trong thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI đã kiểm chứng những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn đúng đắn. Hiện nay, các thế lực thù địch cùng các phần tử cơ hội, xét lại vẫn không ngớt lời công kích, phủ định, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, đề cao chủ nghĩa tư bản hiện đại, ra sức tán dương các quan điểm tư sản, phản động. Nhưng thử hỏi, trong lịch sử nhân loại có học thuyết nào mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả, có sức