Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam gần một thế kỷ qua đã chứng minh đó là kết quả tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là nhờ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ cách mạng mới, việc tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn là một tất yếu khách quan, là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Đảng Cộng sản Việt Nam “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam”, đồng thời là một bộ phận của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, thể hiện bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Đảng, thể hiện lập trường kiên định của Đảng trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình, đồng thời là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng phái khác. Luận cương chính trị năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc
1 Trần Tích Hỷ: Mác nói gì với chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.309.
2 Giắc cơ Đêriđa: Những bóng ma của Mác, NXB Chính trị Quốc gia – Tổng cục II Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1994, tr.218.
3 Giắc cơ Đêriđa: Những bóng ma của Mác, NXB Chính trị Quốc gia – Tổng cục II Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1994, tr.6.
4 Nguyễn Phú Trọng: Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.12.
cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”1.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và Việt Nam xuất hiện những biến đổi to lớn, đặc biệt là sự khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực và khủng hoảng kinh tế - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt Đảng nhấn mạnh đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Năm 1991, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”2. Trên cơ sở “nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam” đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết thành công những vấn đề lý luận và thực tiễn mà sự nghiệp đổi mới đặt ra cho cách mạng Việt Nam. Những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã ngày càng rõ hơn. Những vấn đề lý luận, thực tiễn mới đã được nhận thức ngày càng đúng đắn qua các kỳ Đại hội Đảng và được vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc đổi mới, thu được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới. Đó là các vấn đề: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ...
Nhờ đó, sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn 30 năm qua đạt được những thành tựu có giá trị lịch sử sâu sắc. Những thành tựu mà dân tộc Việt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới đất nước trong những năm qua là do sự nghiệp đổi mới được dẫn dắt và soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin; chính là do Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn cách mạng.
Đến Đại hội XI (1-2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, t.2, tr.100.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.329.
hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”1. Tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra một bài học kinh nghiệm quan trọng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”2.
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển trong hơn 30 năm đổi mới cùng những căn cứ thực tiễn của thế giới và Việt Nam là cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học để Đại hội XII (năm 2016) gần đây của Đảng đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Khẳng định đường lối phát triển của Việt Nam, Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”3.
Hiện nay, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” biểu hiện rất rõ trong việc xa rời, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đây là những quan điểm sai trái, nguy hiểm làm tổn hại đến Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa4. Vì vậy, chúng ta phải tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu, lý tưởng của Đảng hơn bao giờ hết. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có hệ thống, bài bản, nhận thức một cách khoa học và sâu sắc những luận điểm cách mạng của Mác - Lênin, nghĩa là phải kiên định và sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn vận dụng. Bên cạnh đó, cần đổi mới và nâng cao chất lượng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và trung học. Chỉ có như vậy, chúng ta sẽ thực hiện thành công mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII mà Đảng đã đề ra, giữ vững ổn định và phát triển
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.21.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2016, tr.65-66, 71, 247, 89, 105.
4 Lê Hữu Nghĩa: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự Thật, 2017, tr.797
bền vững chế độ chính trị ở nước ta, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
3. Kết luận
Vượt qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến khoa học lý luận kiệt xuất cùng với nhân cách sống bình dị mà cao thượng của Mác vẫn tràn đầy sức sống, tiếp tục tỏa sáng, định hướng cho hành động cách mạng của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, trong đó có Ðảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói, thực tiễn cách mạng Việt Nam là một biểu hiện sinh động, một minh chứng đầy sức thuyết phục về sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước đã thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin lý luận cách mạng để cứu dân, cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, kết hợp sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa yêu nước, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin đã luôn là ngọn đuốc soi đường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Luôn luôn trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đúng đắn qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể, đưa cách mạng nước ta không ngừng tiến lên, giành thắng lợi vẻ vang, chói lọi, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam là chủ thể xây dựng và cũng chính là chủ thể thụ hưởng những thành quả và giá trị do mình tạo ra như lời của C. Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cách đây hơn 170 năm: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”1. Đây chính là mục đích tự thân của lịch sử và con đường phát triển không thể khác hơn đó là con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.36.
GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM “PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á” CỦA CÁC MÁC
ThS Nguyễn Thị Phượng*
1. Đặt vấn đề
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Các Mác đã phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất rồi chỉ rõ: Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những quan hệ sản xuất. Do có lực lượng sản xuất mới liên tục ra đời, nên loài người đã thay đổi phương thức sản xuất, thay đổi cách kiếm sống và thay đổi luôn cả những quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế - xã hội. Vì vậy, các hình thái kinh tế - xã hội ra đời rồi lần lượt thay thế nhau từ Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Chủ nghĩa xã hội và chính đó cũng là kết quả của quá trình chuyển biến, phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, Mác và Ăngghen lại thấy, ở phương Đông, xã hội có những nét đặc thù riêng biệt mà không thể lấy các hình thái kinh tế - xã hội kể trên để giải thích. Mãi đến năm 1859, trong “Lời tựa” tác phẩm
“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác nghiên cứu về phương Đông, mà cụ thể là Ấn Độ, khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á” chính thức ra đời. Cũng từ đó bắt đầu nảy sinh nhiều bất đồng giữa các nhà nghiên cứu kể cả phương Đông lẫn phương Tây khi đề cập đến khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á”. Vì vậy trong bài viết này tôi muốn góp phần tìm hiểu thêm về một xã hội châu Á có những nét đặc thù, riêng biệt khác với châu Âu để từ đó thấy được sự đa dạng của các phương thức sản xuất trong sự phát triển chung mang tính quy luật của xã hội loài người.