Sau khi đã hoàn thành việc phân chia thế giới, các công ty độc quyền của các nước tư bản đế quốc không những tranh giành thuộc địa và khu vực
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.628.
ảnh hưởng của nhau, mà còn gây ra các chiến tranh đế quốc, đẩy thế giới vào các cuộc chiến tranh xâm lược giết hại lẫn nhau. Chủ nghĩa đế quốc đặt toàn thể loài người trên thế giới trước hai con đường: thứ nhất là cam chịu sự thống trị và bóc lột của chủ nghĩa đế quốc; thứ hai là phải vùng lên chống lại và lật đổ chủ nghĩa đế quốc và đưa xã hội loài người tiến lên một chế độ mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Karl Helnrich Marx thường được phiên âm là Các Mác trong các tài liệu tiếng Việt, ông sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 tại Trier, nước Phổ (nước Đức này nay) và mất ngày 14 tháng 3 năm 1883 tại Luân Đôn, nước Anh. Ông học luật, sử học và triết học. Vào năm 1841, Các Mác bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học. Ông đã làm nghề viết báo để phục vụ lẽ phải, bảo vệ người dân lao động, đấu tranh chống bất công trong xã hội. Mác không chỉ là một nhà tư tưởng, nhà bác học thiên tài, ông đồng thời còn là nhà cách mạng vĩ đại. Qua hoạt động thực tiễn ở nhiều nước Tây Âu, Mác từng chứng kiến sự bần cùng của những người lao động làm thuê và sự bất công của xã hội tư bản. Với trái tim nhân hậu thấm đượm tinh thần nhân văn cộng sản và bầu nhiệt huyết cách mạng, ông đã hiến dâng trọn cuộc đời mình đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Bằng hoạt động trực tiếp trong phong trào công nhân, Mác đưa lý luận thâm nhập vào phong trào, biến lý luận thành lực lượng vật chất to lớn, thúc đẩy cách mạng và sự phát triển của xã hội.
Mác đã sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản đang phát triển và thời kỳ này cũng là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạng công nghiệp không những đánh dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ công sang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, nhất là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản. Cách mạng công nghiệp làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuất mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Qua thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đã đặt ra yêu cầu khách quan là giai cấp công nhân cần phải được trang bị vũ khí về lý luận làm cơ sở cho đấu tranh giai cấp. Vì vậy, thực tiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác đã ra đời dựa trên sự kế thừa tinh hoa di sản tư tưởng, lý luận của nhân loại trong đó trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Như Mác đã từng nói: ông muốn đi xa hơn, không phải giải thích thế giới bằng cách này hay cách khác, vấn đề quan trọng là cải tạo nó. Phải phê
phán thế giới đang tồn tại và phê phán cả bằng vũ khí1. Công lao vĩ đại của Các Mác và người kết tục sự nghiệp của Mác là Ăngghen là đã nghiên cứu sâu sắc và toàn diện các quy luật của chủ nghĩa tư bản, từ đó hai ông đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị diệt vong, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng lợi. Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là người sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao cả đó, giai cấp vô sản phải có chính đảng tiên phong của mình, phải tiến hành cách mạng vô sản và thiết lập chuyên chính vô sản. Tháng hai năm 1848, bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được xuất bản công khai bằng nhiều ngôn ngữ tại các quốc gia ở châu Âu. Bản Tuyên ngôn đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử tư tưởng loài người. Quan niệm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đã được Mác và Ăngghen quán triệt sâu sắc trong toàn bộ tác phẩm nổi tiếng này. Bản Tuyên ngôn là một phát súng báo hiệu sự xuất hiện nền tảng tư tưởng khoa học của học thuyết cộng sản chủ nghĩa chống lại chủ nghĩa tư bản, giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột2.
Với tư cách là một nhà khoa học, Mác đã có những cống hiến vĩ đại tạo ra một cuộc cách mạng triệt để trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới. Mác cùng với Ăngghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư và học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên cơ sở tổng kết lịch sử thế giới, đặc biệt là sự nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản và thực tiễn phong trào công nhân quốc tế, đồng thời kế thừa những giá trị tinh hoa của nhân loại trong các lĩnh vực khoa học và tư tưởng. Những cống hiến khoa học của Mác góp phần hình thành một thế giới quan và một phương pháp luận khoa học và cách mạng, đem lại cho nhân loại và cho giai cấp công nhân một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới.
Theo Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận rằng, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, còn ý thức là cái có sau và là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người; là sự phản ánh tự giác thế giới vật chất vào trong bộ óc con người, đồng thời có tác động tích cực trở lại đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới vật chất và chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định rằng, tồn tại xã hội có trước và quyết định ý thức xã hội; ý thức xã hội là cái có sau và là sự phản ánh tự giác, tích cực ít nhiều tồn tại xã hội; nó có tính độc lập tương đối và đặc
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.10.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.44-45.
biệt là, thông qua hoạt động của con người, có tác động trở lại tồn tại xã hội. Với tính chất này, ý thức xã hội có thể đóng vai trò đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Ngoài ra, chủ nghĩa duy vật lịch sử không dừng lại ở việc lý giải nguyên lý chung về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mà còn đi sâu phân tích kết cấu của xã hội, xác định vị trí, vai trò của từng yếu tố cấu thành xã hội, đồng thời xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố đó. Với việc ra đời của khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã cung cấp một cách nghiên cứu mới khi nghiên cứu về xã hội. Với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cho phép chúng ta nhận xét, đánh giá các yếu tố cấu thành xã hội, các giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời thấy được nguyên nhân vận động và phát triển của xã hội nói chung. Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội là khái niệm dùng để chỉ xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định tương ứng với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó và một kiểu kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng thứ hai của Mác sau chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nội dung chính của học thuyết đã phát biểu rằng sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác. Trong học thuyết này, Mác đã đưa ra công thức T-H-T’ (tiền - hàng hóa - tiền) để minh họa cho sự biến đổi của vốn (tư bản) dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩa là T’=T+ ΔT). Bởi tất cả giá trị được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao động (theo Thuyết giá trị về lao động), mà chủ yếu là lao động của người làm thuê, nên giá trị thặng dư ΔT cũng là giá trị do lao động kết tinh. Tuy nhiên, giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó, mà thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản. Theo đánh giá của V.I.Lênin, lý luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”
và học thuyết kinh tế của C.Mác là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác”. Để đạt được mục đích làm giàu tối đa của mình, nhà tư bản đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất mà thôi.
Một thành quả khoa học khác của Mác là đã xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội, trong đó ông chỉ ra những nguyên tắc chung nhất, cơ bản nhất của xã hội tương lai sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản. Ông đã có những luận giải khoa học về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Theo ông, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai; do vậy, về mặt khách quan nó là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Mác là một nhà khoa học thiên tài, ông có sức sáng tạo và khả năng làm việc khoa học phi thường. Hàng nghìn những công trình khoa học của riêng Mác và cùng viết với Ăngghen đã được công bố, là kết quả của cả cuộc đời nghiên cứu nghiêm túc, cẩn trọng, gắn với những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Với Mác, bản chất của lý luận không bao giờ là hoàn chỉnh trọn vẹn một cách tuyệt đối, do đó ông đã không ngần ngại sửa chữa những quan điểm lý luận của mình nhằm phù hợp với điều kiện mới của thực tiễn cuộc sống. Qua thực tiễn cách mạng, C.Mác đã nhận thức rõ ràng rằng:“Chúng ta không cố đoán trước về tương lai một cách giáo điều, mà chỉ mong tìm ra cái thế giới mới qua sự phê phán thế giới cũ...
Song nếu việc cấu tạo tương lai và tuyên bố dứt khoát những quyết định in sẵn cho tất cả mọi thời kỳ sắp đến không phải là việc của chúng ta, thì chúng ta càng biết rõ là mình cần phải làm gì trong hiện tại, - tôi nói đến sự phê phán thẳng tay toàn bộ cái hiện tồn, thẳng tay theo hai nghĩa: sự phê phán này không sợ những kết luận của mình và không lùi bước trước sự đụng độ với những cơ quan cầm quyền”1. Thực hiện di chúc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã dốc phần lớn sức lực cũng như trí tuệ của mình trong những năm cuối đời vào việc chỉnh lý, biên tập xuất bản tập 2 (1885), tập 3 (1894) của bộ Tư bản và chứng minh lý luận của Mác
“không chỉ là một quá trình thuần túy lô-gíc mà là quá trình lịch sử”2. Trong quá trình thực hiện các nghiên cứu khoa học, Mác kiên định một cách nhất quán lập trường cách mạng, không bao giờ lùi bước, khuất phục trước sức ép của chính quyền tư sản, đồng thời cũng kiên quyết chống lại mọi biểu hiện giáo điều, cơ hội, xét lại phản bội lý tưởng, mục tiêu cách mạng, đi ngược lại nguyên tắc, quyền lợi của phong trào công nhân. Khi chủ nghĩa Mác vừa mới ra đời, một mặt, nó bị các xã hội
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.520.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.25, phần 2, tr.655.
phương Tây gọi là “bóng ma”, “bóng ma của Mác”; mặt khác, tất cả các thế lực chính trị, phản động đều tạm gác các tranh chấp vốn có với nhau để cùng đối phó với “bóng ma” này1. Chủ nghĩa Mác đã làm cho giai cấp tư sản, kẻ thù của Tuyên ngôn Cộng sản cảm thấy lo lắng và sợ hãi về những giá trị cách mạng đem lại cho giai cấp công nhân, những người mác-xít 2và trong thế giới và xã hội đầy biến động ngày hôm nay một lần nữa đã chứng minh rằng “Không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”3.