Quan điểm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 80 - 84)

Trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một thể thống nhất, không thể đối lập và tách rời;

nếu làm ngược lại, là phủ nhận mối liên hệ nội tại cả về logic và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử dân tộc hơn 80 năm qua đã chứng tỏ con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn, nhất quán của Hồ Chí Minh và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân. Từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội là vấn đề có tính quy luật về nhận thức hiện thực khách quan. Đảng ta đã bước đầu hình thành được những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho đường lối của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ nhất, nhận thức mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta nhưng đây là sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và gian khổ; hiện nay nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức, vận dụng đúng đắn, phù hợp thực tế và quy luật khách quan; Từ Đại hội VI đến Đại hội XII, vấn đề bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta xác định và không ngừng bổ sung, hoàn thiện với các tiêu chí: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, nhận thức về động lực của sự phát triển:

Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hệ thống động lực bao gồm các loại động lực vật chất và tinh thần, các động lực bên trong, các động lực bên ngoài mà trước hết là ba động lực quan trọng:

phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là động lực quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa quyết định đối với thành công của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới nhằm khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người; kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người - đây là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất.

Thứ ba, nhận thức về nền tảng tư tưởng của Đảng: Đảng ta kiên trì, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong điều kiện mới của thời đại.

Thứ tư, nhận thức về thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam: Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa”; Cần “tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học - công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.

Thời kỳ quá độ là một quá trình lịch sử rất lâu dài, trải qua hàng thế kỷ, nối tiếp nhau nhiều thế hệ, có nhiều bước, nhiều chặng. Mục tiêu phấn đấu tới khoảng năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó vấn đề mấu chốt là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ năm, nhận thức về phương hướng áp dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, con đường và mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại đại hội VII của Đảng (1991) đã nêu ra 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, vạch ra phương hướng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, gợi mở về mô hình chủ nghĩa xã hội của nước ta xây dựng; qua các kỳ đại hội đã được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, thể hiện sự nhất quán, tạo nên một nền tảng vững chắc cho hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Những nguyên lý về Hình thái kinh tế - xã hội, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra là những nguyên lý mang tính phổ biến bởi nó phản ánh đúng bản chất và xu hướng vận động chung của lịch sử nhân loại mà bất kỳ nước nào, trong quá trình phát triển, ít nhiều cũng phải trải qua. Tuy nhiên những nguyên lý đó không phải là khuôn mẫu bất biến có thể áp dụng chung

cho tất cả các nước, cũng không phải là những chỉ dẫn cụ thể đối với từng trường hợp cụ thể nào, mà nó chỉ là những định hướng cơ bản về xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, là phương pháp luận khoa học để dẫn dắt chúng ta trong hành động cách mạng.

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh việc tuân thủ các nguyên lý chung về chủ nghĩa xã hội, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay đang hướng mạnh đến các giá trị dân tộc: là lịch sử, truyền thống văn hóa, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi dân tộc. Chính điều này làm cho chủ nghĩa xã hội trở nên đa dạng và phong phú hơn trong các mô hình phát triển.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta đã kiên trì kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn Việt Nam, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và đã giành được nhiều thành tựu hết sức quan trọng. Một trong những nguyên nhân cơ bản của thành công đó là chúng ta đã giải quyết đúng mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù, tính dân tộc và tính thời đại về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong quá trình đó, những nguyên lý có tính phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được nhận thức lại cho phù hợp với thời đại và được vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Từ đó con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã ngày càng được nhận thức rõ hơn và đúng đắn hơn.

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 – NHÌN LẠI QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TRONG NỀN SẢN XUẤT XÃ HỘI

Phạm Ngọc Hòa*

Sự phát triển của nhân loại trong hơn ba thế kỷ qua chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những thay đổi từ các cuộc cách mạng công nghiệp. Cũng như ba cuộc cách mạng công nghiệp lần trước, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra thời cơ mới, cũng như thách thức không nhỏ cho sự phát triển của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Cuộc cách mạng này có tác động sâu rộng tới nhận thức, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị, quan hệ giữa các dân tộc,… tạo ra những cơ hội và những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay. Bài viết làm rõ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quan niệm C.Mác về vai trò của lực lượng sản xuất trong nền sản xuất xã hội – tiền đề cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 80 - 84)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(258 trang)