Thực tế việc chọn ngành học, chọn nghề của học sinh, thanh niên hiện nay ở nước ta có thể xem xét ở nhiều khía cạnh. Song, phạm vi bài viết này, tác giả xin trình bày một vài suy nghĩ về việc chọn nghề của thanh niên Việt Nam hiện nay.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.16.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.16.
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.18- 19.
4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.19.
5 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.19.
6 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, t.40, tr.19.
Với sự phát triển của thời đại, thanh niên ngày càng có điều kiện để bộc lộ sở thích và thực hiện những mong muốn của mình trong việc chọn ngành, chọn nghề. Chính vì thế, thanh niên có điều kiện thực hiện ước mơ, hoài bão của mình. Nhiều bạn trẻ đã biến ước mơ của mình thành hiện thực và lan toả ngọn lửa ấy đến những người trẻ khác. Mặt khác, nhiều bậc phụ huynh sớm quan tâm đến việc định hướng nghề nghiệp cho con em mình và tạo mọi điều kiện để chúng có thể lựa chọn những ngành, nghề phù hợp với điều kiện, khả năng và sở thích của bản thân.
Bên cạnh đó, nhiều tổ chức xã hội mà thanh niên tham gia học tập, sinh hoạt cũng có những nội dung gắn với hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên. Trên cơ sở đó, thanh niên có điều kiện tìm hiểu, đối chiếu, lựa chọn những ngành, nghề phù hợp với khả năng, điều kiện và sở thích của mình.
Tuy nhiên, một thực tế khác cũng không thể phủ nhận là cũng còn rất nhiều bạn trẻ thờ ơ với việc chọn nghề, định hướng tương lai của mình. Nhiều thanh niên không có chính kiến, tuỳ tiện chọn một ngành nghề nào đó. Họ chọn một nghề đang “hot”, mang tính trào lưu hơn là căn cứ vào năng lực, điều kiện của bản thân. Hoặc số khác, thanh niên không được chọn ngành, nghề bản thân cảm thấy yêu thích mà họ đến với ngành, nghề đó là do chính những người thân của họ yêu thích, họ muốn nhưng họ không thực hiện được. Hay nói ngắn gọn hơn, đó là sự
“áp đặt” trong việc chọn ngành, nghề của một số thanh niên hiện nay.
Chính vì những bất cập như vậy, nhiều người trẻ đã không vượt qua được những khó khăn trong quá trình chinh phục kiến thức nghề, chinh phục được đỉnh cao của nghề nghiệp. Thậm chí, có những trường hợp “đắng lòng” hơn là khi có kết quả không tốt, không như mong đợi họ tìm đến cái chết để giải quyết vấn đề. Cũng chính những bất cập trong việc chọn nghề, nhiều thanh niên không hành được nghề mặc dù đã trải qua quá trình học tập, tìm hiểu về nghề đó. Số khác, không thể theo nghề đến cùng, nhất là những lúc khó khăn tác động từ bên ngoài đến việc hành nghề của họ. Hơn thế nữa, nhiều người hành nghề chỉ đơn giản là để sinh tồn, để mưu sinh không nhằm một mục đích nào khác. Nghĩa là, nhiều người chưa bao giờ có suy nghĩ mình làm nghề này ngoài việc mang lại những giá trị cho bản thân còn phải mang lại những giá trị khác cho xã hội, vì sự phát triển của xã hội.
Do vậy, khi phân tích những quan niệm của C.Mác – chàng trai trẻ mười bảy tuổi – với những suy tư rất già dặn về việc chọn nghề của thanh niên, chúng ta đối chiếu với thực tế việc chọn nghề của thanh niên Việt Nam hiện nay, như một lời thức tỉnh đối với thanh niên về trách nhiệm của mình đối với bản thân mình và với xã hội.
- Thanh niên có quyền lực chọn cho mình một nghề nghiệp – đó là quyền “bất khả xâm phạm”, vì vậy, mỗi thanh niên hãy phát huy quyền đó, đừng bao giờ để bị tước đi quyền tự do ấy.
- Thanh niên hãy chọn cho mình một cái nghề mà mình thực sự yêu thích nhất, phù hợp với năng lực của bản thân, điều kiện của gia đình, hoàn cảnh của xã hội. Sự phù hợp với năng lực bản thân và sự yêu thích là yếu tố hàng đầu và quyết định.
CÁC MÁC - NGƯỜI VƯỢT TRƯỚC THỜI ĐẠI
PGS.TS Đoàn Đức Hiếu* ThS Nguyễn Văn Lĩnh**
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) sinh ra và lớn lên tại thành phố Tơ ri vơ, vùng Ranh của nước Đức. Từ khi còn học trung học, C.Mác đã thể hiện là một tài năng lớn, yêu quê hương, đất nước, gắn bó hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc mọi người.
Thời kỳ sinh viên học tại Đại học Bon và Đại học Béclin, Ông đặc biệt say mê nghiên cứu triết học, vì theo C.Mác, chỉ có triết học mới đem đến cho con người sự hiểu biết và khả năng cải tạo thế giới, nhằm mục đích giải phóng con người.
Triết học của C.Mác là triết học dẫn đường và triết học hành động.
Bởi vì, triết học C.Mác không chỉ nhằm mục đích nhận thức thế giới, mà cao hơn là cải tạo thế giới. Những tư tưởng triết học có tính chất “vạch thời đại” của C.Mác đã thực sự tạo nên những bước ngoặt cách mạng trong nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn.
Từ góc độ triết học duy vật biện chứng, C.Mác đã kế thừa những tiền đề trong lịch sử triết học của chủ nghĩa duy vật siêu hình Feurbach và phép biện chứng duy tâm khách quan của Hegel, để sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng - cơ sở về thế giới quan và phương pháp luận - cho hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Hệ thống triết học C.Mác, đã thể hiện tính thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, thống nhất giữa nội dung lý luận và vai trò phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng. Các hệ thống triết học trước C.Mác không có sự thống nhất này. Vì vậy, với tư cách là hệ thống triết học tiến bộ nhất trong lịch sử triết học của nhân loại, “phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy”1. Phép biện chứng duy vật trong triết học C.Mác không chỉ chứa đựng nội hàm hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của phép biện chứng, mà từ góc độ phương pháp luận, nó là phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy. Bác Hồ cũng khẳng định rằng: chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. “Một dân tộc, muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Chỉ có phép biện chứng thì mới có
* Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
** Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, t.20, tr.201.
thể giúp cho khoa học tự nhiên thoát khỏi những khó khăn về lý luận…
Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt…”1. Chính sự ra đời và phát triển của triết học C.Mác đã tạo nên sự thống nhất trong mối liên hệ biện chứng giữa triết học duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên, cũng như mọi lĩnh vực khoa học khác. Thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật trong triết học C.Mác đóng vai trò là những chân lý phổ quát, phổ biến, bao trùm và chung nhất cho mọi lĩnh vực nhận thức khoa học và thực tiễn;
đồng thời các giá trị cụ thể của những lĩnh vực khoa học khác nhau và hoạt động thực tiễn của con người là nền tảng minh chứng, là tiền đề xuất phát khởi đầu cho những kết luận có tính phổ quát của triết học. Vì vậy, triết học duy vật biện chứng của C.Mác và khoa học, dù trong bất kỳ thời đại nào, cũng có mối liên hệ thống nhất không tách rời. Cho nên, trong tác phẩm triết học Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác đã cho rằng:
sự phân chia giữa các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội chỉ là tương đối, vì suy đến cùng, chỉ có một khoa học duy nhất là khoa học về con người và vì sự phát triển của con người.
Triết học C.Mác là minh chứng cho mối quan hệ thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng. Tính khoa học thể hiện trong hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của triết học phản ánh đúng quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chưa có một yếu tố nào, một lĩnh vực nào trong các nghiên cứu của C.Mác, triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, lại có những sai lầm về mặt nhận thức.
Vấn đề chứng minh tính chân lý đó là thuộc về phạm trù thời gian. Tất yếu lịch sử loài người sẽ hiện thực hóa trong tương lai, dù đang còn rất lâu dài, những tư tưởng của C.Mác, đặc biệt là triết học lịch sử. Bất kỳ một lý luận khoa học nào (dù khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội nhân văn), đều thể hiện bản chất cách mạng. Tự trong bản thân khoa học đã chứa đựng tính cách mạng. Thống nhất tính khoa học và tính cách mạng là bản chất tất yếu của mọi lĩnh vực khoa học, trong đó có triết học C.Mác. Một lý luận khoa học, càng thể hiện tính khoa học sâu sắc, đúng đắn, thì càng thể hiện tính cách mạng triệt để, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của tự nhiên và lịch sử xã hội. Tính cách mạng của triết học C.Mác được thể hiện trong tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học mác xít. Tính cách mạng của một học thuyết triết học cũng biểu hiện trong sự tác động của hệ thống lý luận triết học đó đối với thực tiễn, tạo nên động lực cho sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội. Xét từ góc độ này, lý luận triết học C.Mác, và toàn bộ hệ thống lý luận của chủ nghĩa
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, tr.508.
Mác - Lênin, có vai trò to lớn và sự tác động mạnh mẽ đối với lịch sử phát triển nhân loại từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt trong thế kỷ XX và trong tương lai. Trong giai đoạn thế kỷ XIX, XX, với nhiều hệ thống triết học phương Tây ra đời cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kỹ trị… nhằm lý giải số phận con người, bản chất con người, vai trò con người trong sự thăng trầm của lịch sử…thì vượt lên trên tất cả mọi hệ thống triết học của truyền thống và triết học phương Tây hiện đại, triết học C.Mác đóng vai trò là triết học hành động, triết học hướng đến mục đích giải phóng con người, là nền tảng tư tưởng lý luận của các đảng cộng sản. C.Mác đã khẳng định rằng: “Các triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”. Triết học C.Mác là triết học cải tạo thế giới, nhằm mục đích giải phóng con người, vì vậy, đó là hệ thống triết học mang bản chất khoa học và cách mạng, có vai trò vạch thời đại, tạo ra bước ngoặt cách mạng về lý luận và thực tiễn trong lịch sử xã hội loài người.
Lịch sử của nhân loại, với quy luật phát triển “là một quá trình lịch sử - tự nhiên”, với vai trò quyết định của tồn tại xã hội, đã hiện hữu với ba dòng chảy về ý thức xã hội xuyên suốt trong lịch sử đó là khoa học, văn hóa và tôn giáo. Tất nhiên đây là sự phân loại mang tính tương đối.
Từ góc độ mối liên hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel. Lời nói đầu”, C.Mác đã nêu lên một quan điểm lớn có ý nghĩa phương pháp luận: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”1.Từ góc độ ý thức xã hội, bàn về lĩnh vực tôn giáo, C.Mác là người đã nhận thức rất sâu sắc về nguồn gốc, bản chất và vai trò của tôn giáo, để làm cơ sở cho phương pháp ứng xử khoa học đối với thực tiễn tôn giáo hiện nay. C.Mác khẳng định rằng: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”2. Luận điểm này là sự khái quát sâu sắc nguồn gốc tôn giáo xuất phát từ thế giới hiện thực; bản chất tôn giáo là sự phản kháng của tinh thần về mặt trái khổ đau trong đời sống xã hội,
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, t.1, tr.580.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, tr.570.
là niềm tin về một thế giới tốt đẹp trên Thiên đường hay cõi Niết bàn; vai trò của tôn giáo là hạnh phúc hư ảo được mặc định trong lý trí và tình cảm của con người.
Có thể khái quát rằng tư tưởng triết học C.Mác là tư tưởng mang tính chất vạch thời đại, tạo ra bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại. Đó là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, mối liên hệ thống nhất giữa triết học và khoa học, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật lịch sử, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Từ giác độ nào, triết học C.Mác cũng đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trên cơ sở nền tảng của triết học duy vật biện chứng, C.Mác đã xây dựng học thuyết kinh tế chính trị học về bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản, mà hạt nhân là lý luận về giá trị thặng dư. Học thuyết kinh tế của C.Mác đã vạch ra mâu thuẫn tất yếu giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, là quy luật cơ bản, xuyên suốt trong lịch sử xã hội loài người.
Quy luật này là cơ sở thực tiễn để hình thành nên các mối quan hệ trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, như tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; đồng thời giải thích mọi quan hệ về đối kháng giai cấp trong lịch sử xã hội loài người, suy đến cùng, đều xuất phát từ nguyên nhân kinh tế, từ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp trong đời sống xã hội.
Từ đối kháng về lợi ích giai cấp, C.Mác đã phát hiện ra vai trò lịch sử của giai cấp công nhân là người “đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, thông qua vai trò chính đảng của mình là Đảng Cộng sản, để lãnh đạo nhân dân lao động tiến hành cuộc cách mạng xã hội, lật đổ giai cấp tư sản, để xây dựng một xã hội mới tiến bộ nhất trong lịch sử: xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai. Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển lịch sử xã hội loài người mà C.Mác đã sáng tạo nên, thông qua hệ thống lý luận về triết học duy vật biện chứng, về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Con đường đi đến chân lý và thành công bao giờ cũng là một quá trình diễn ra với nhiều bước quanh co, phức tạp, mang tính thuận nghịch, theo quy luật phủ định của phủ định. Đó là quá trình đi từ nhận thức chân lý khoa học đến hiện thực hóa trong hoạt động thực tiễn. Cuộc đời của C.Mác trong toàn bộ hành trình để sáng tạo nên học thuyết khoa học - cách mạng vĩ đại, đã vượt qua muôn trùng thử thách, sóng gió để đi đến vinh quang. Chính C.Mác đã từng khẳng định rằng: trong khoa học, không có con đường nào bằng phẳng thênh thang, chỉ những người không sợ chồn chân, mỏi gối, để trèo lên những con đường nhỏ bé, gập ghềnh