Quan niệm của C. Mác về vai trò của lực lượng sản xuất trong nền sản xuất xã hội - tiền đề cho cuộc cách mạng công nghiệp

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 86 - 91)

Xã hội loài người tồn tại và phát triển được là nhờ có sản xuất vật chất. Lịch sử loài người trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật

1 Hải Minh: Cách mạng công nghiệp 4.0: Đảo lộn tất cả, Báo Tuổi trẻ cuối tuần, 2017, ngày 26-2-2017, tr.24.

2 Lê Bảo Long: Dưới ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Những ai phải lo?, Báo Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 11-9-2016, tr.12.

chất, là lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau trong các giai đoạn phát triển của xã hội. Theo C.Mác, để tồn tại, để sống, trước hết con người cần phải có cái ăn, cái mặc, cái ở; rồi sau đó mới nói đến làm chính trị, khoa học, nghệ thuật,... Muốn có cái ăn, cái mặc, cái ở thì con người buộc phải tiến hành lao động, đặc biệt là lao động sản xuất ra của cải vật chất. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống tinh thần. Các quan hệ chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,… đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất.

Công lao vĩ đại của C.Mác là áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội và đã chỉ ra tính quy luật của các biến đổi xã hội như là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác đã kết thúc thời kỳ nghiên cứu xã hội, lịch sử một cách tùy tiện, lộn xộn, mở ra một thời kỳ mới trong nghiên cứu xã hội, lịch sử - chỉ ra quy luật hình thành, vận động và phát triển của xã hội, lịch sử. Ph.Ăngghen đã so sánh phát minh này của C.Mác giống như phát minh của Đácuyn trong khoa học tự nhiên: “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, C.Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác

“chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức xã hội này, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác cao hơn; chẳng hạn, chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh ra như thế nào từ chế độ phong kiến”2. Từ khi bắt đầu đi sâu nghiên cứu nền sản xuất xã hội, C.Mác phát hiện ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất. Trong lực lượng sản xuất, vai trò của khoa học công nghệ được thể hiện ở trình độ của người lao động và trình độ của công cụ lao động, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”. Khi hàm lượng khoa học ngày càng gia tăng trong hai yếu tố này sẽ tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất và do đó thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển phù hợp. Những quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng xã hội và đóng vai trò quyết định sự tồn tại, biến đổi của kiến trúc thượng tầng xã hội. Trong Phê phán khoa kinh tế chính trị, bản sơ thảo đầu tiên của bộ Tư bản, C.Mác viết: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp…”3. Theo C.Mác, tri thức (khoa học) đã làm cho tư bản cố định (nhà máy, máy

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, t.19, tr.499.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 2010, t.23, tr.53.

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.46, phần II, tr.372.

móc, công cụ… được dùng trong sản xuất) chuyển hóa đến mức độ nhất định nào đó thì trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mức độ đó là khi tri thức khoa học được ứng dụng, được vật hóa thành tư bản cố định và được người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất. C.Mác nhận định:

“Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn. Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định”1. C.Mác dự báo: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân ấy, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”2. Chẳng hạn, trong thời kỳ công trường thủ công, lao động chân tay là đặc trưng cơ bản của người lao động; trong thời kỳ sản xuất dựa trên công cụ cơ khí thì khía cạnh năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm điều hành máy móc lại nổi trội hơn (lao động chân tay kết hợp với lao động trí óc);

còn trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay (hàm lượng tri thức trong sản phẩm chiếm đến 70%) thì khía cạnh tri thức lại nổi trội. Như vậy, cái quan trọng có tính chất quyết định trong lực lượng sản xuất hiện nay không phải là lao động cơ bắp, không phải là kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng, vận hành máy móc, mà là tri thức của người sản xuất (lao động trí óc). Từ đó, đối với các nước trên thế giới hiện nay, đầu tư cho giáo dục là đầu tư có tính chất chiến lược, vô cùng quan trọng.

Có thể nói, quan niệm của C.Mác về vai trò của khoa học công nghệ hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và có ý nghĩa phương pháp luận khi nhận thức về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bởi vì, hiện nay khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất, nó là nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi trong sản xuất và trở thành một nhân tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất; nó thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất, đem lại sự thay đổi về

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.46, phần II, tr.367.

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.46, phần II, tr.368.

chất của lực lượng sản xuất; nó ngày càng được áp dụng rộng rãi trong sản xuất, nó làm cho quá trình sản xuất chính là quá trình ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật; do đó, nó có ý nghĩa sống còn đối với nhiều quá trình sản xuất. Theo dự báo, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (như kỹ thuật in 3D, sự hoàn thiện của rô bốt,...) sắp tới lực lượng sản xuất sẽ có những phát triển mạnh mẽ, vượt lên trên trí tưởng tượng của nhiều người. Bởi vì, lực lượng sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, nó không chỉ được xã hội hóa như trước kia, mà nó ngày càng được toàn cầu hóa, quốc tế hóa. Toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa công cụ lao động, phương tiện sản xuất.

Thực vậy, theo đà phát triển của sản xuất, khối lượng và chất lượng của cải xã hội sẽ được quyết định bởi việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Từ đó một số học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản đã đi đến chỗ tuyệt đối hóa, thổi phồng, khuếch đại vai trò của khoa học công nghệ, chẳng hạn như học thuyết các nền văn minh, học thuyết xã hội hậu công nghiệp, xã hội thông tin, học thuyết kỹ trị,... Các học thuyết này nhằm mục đích phủ nhận và thay thế học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, đặc biệt là vai trò của lực lượng sản xuất trong nền sản xuất xã hội. Nhưng như chúng ta đã biết, dù có trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, khoa học công nghệ cũng chỉ là một bộ phận của lực lượng sản xuất. Trong lực lượng sản xuất, yếu tố quyết định vẫn là con người, mặc dù khoa học công nghệ nâng cao địa vị, vị thế, vai trò, sức mạnh của con người. Máy vi tính có thể tính nhanh và chính xác gấp triệu lần con người; rô bốt, người máy có thể làm được những việc mà con người không thể làm nổi, nhưng những cái đó suy cho cùng đều do con người chế tạo ra, con người điều khiển chúng, nếu thiếu con người, thì tự bản thân chúng cũng không thể phát huy tác dụng. Khoa học công nghệ chỉ thực sự phát huy vai trò to lớn khi thông qua con người, chịu sự chi phối của con người.

Kết luận

Như vậy, cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra với tốc độ nhanh theo cấp số nhân đã làm thay đổi bối cảnh toàn cầu và có tác động ngày một gia tăng đến các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhìn lại diễn biến và sự phát triển của các cuộc CMCN cho chúng ta thấy rằng, những dự báo của C.Mác về vai trò của lực lượng sản xuất trong nền sản xuất xã hội, đặc biệt là khoa học công nghệ là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với bối cảnh của cuộc CMCN 4.0 hiện nay. Cuộc CNCN 4.0 là cơ hội cho mọi dân tộc, nhất là các dân tộc đi sau có thể phát triển nhanh bằng đi tắt, đón đầu. Cũng như ba cuộc CMCN trước, dân tộc nào

nắm bắt được cơ hội do cuộc CMCN 4.0 đem lại thì phát triển, giàu có;

ngược lại, dân tộc nào không nắm bắt được sẽ bị gạt ra ngoài sự phát triển1. Trong tương lai, chắc chắn nhân loại sẽ còn có bước phát triển vượt bậc hơn nữa, không chỉ dừng lại ở cuộc CMCN 4.0, mà có thể là cuộc CMCN 5.0, 6.0, thậm chí là tiến tới số hóa toàn bộ hoạt động sản xuất xã hội.

1 Nguyễn Văn Giang: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 minh chứng sinh động dự báo thiên tài của C.Mác, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5-2017, tr.6.

TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN - MỘT TƯ TƯỞNG

VẠCH THỜI ĐẠI DO CÁC MÁC SÁNG LẬP RA VÀ SỰ KẾ THỪA CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

ThS Ngô Văn Hùng*

Cách đây 170 năm, xuất phát từ nhu cầu phải xây dựng, phát triển lý luận để soi rọi cho thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa, thay mặt Liên đoàn những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Từ khi ra đời, Tuyên ngôn không chỉ là cương lĩnh chính trị của tổ chức mà còn có sức lan tỏa nhanh chóng mang tầm ảnh hưởng quốc tế, trở thành cương lĩnh cách mạng đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuyên ngôn là tác phẩm lý luận khoa học và cách mạng mang tầm khái quát cao toàn bộ tiến trình của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ ách áp bức thống trị hàng trăm năm của chủ nghĩa tư bản để cho ra đời một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN, một xã hội mang bản chất nhân văn giải phóng con người.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu hội thảo các mác giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại (Trang 86 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(258 trang)