Trong học thuyết về giá trị thặng dư, C.Mác đã có một nhận định có tính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: “Mục đích thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực mà kết quả ấy không phải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định với những chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu”2. Từ đó, chúng tôi thấy có bốn vấn đề cần nhận thức rõ trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.
Thứ nhất, nhận thức mới về giá trị thăng dư. Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, với đặc điểm là nền kinh tế nhiều thành phần, giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới do người lao động tạo ra trong nền kinh tế thị trường, việc phân phối phụ thuộc vào hình thức sở hữu (tư hữu thì giá trị thặng dư thuộc về tư nhân, công hữu thì giá trị thặng dư thuộc về xã hội).
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t.26, phần II, tr.804.
Thứ hai, nhận thức mới về vấn đề phân phối giá trị thặng dư. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, nhà tư bản không nhận được toàn bộ giá trị thặng dư như trong phân tích gắn với những giả định của Mác. Điều này thể hiện:
Một là, đa số các nhà tư bản đều tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, họ phải bỏ nhiều tâm huyết, sức lực và trí tuệ vào sự hoạt động của doanh nghiệp. Có thể thấy đây là lao động trí óc, nên tạo ra giá trị rất lớn. Vì vậy, trong tổng giá trị thặng dư tạo ra (m) có một phần tiền công quản lý trả công cho lao động quản lý của ông chủ (m1).
Hai là, nhà tư bản hàng năm phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước, vì vậy, trong m có một phần thuế thu nhập doanh nghiệp (m2). Thông qua nguồn thu từ thuế, nhà nước thực hiện các chính sách xã hội. Như vậy, người lao động nhận được một phần giá trị thặng dư do họ tạo ra thông qua chính sách xã hội của nhà nước. Đây là những hiện tượng vượt ra ngoài quan hệ giữa tư bản và lao động.
Ba là, trong hoạt động của doanh nghiệp hàng năm, các chủ doanh nghiệp đều có các chương trình phúc lợi cho người lao động như nhà ở, khám sức khỏe, du lịch nghỉ ngơi… Như vậy, trong m có một phần phúc lợi cho người lao động (m3 ).
Bốn là, trong hoạt động của doanh nghiệp, hàng năm các chủ doanh doanh nghiệp đều tham gia các chương trình phúc lợi cho cộng đồng xã hội như các chương trình vì người nghèo, chương trình hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, bão lụt…, chương trình học bổng cho các học sinh, sinh viên, các chương trình nhân đạo khác… Trong các chương trình này, phần tài trợ lớn nhất thường là các chủ doanh nghiệp tư bản. Do vậy, trong m có một phần phúc lợi cho xã hội (m4).
Năm là, ngày nay đang tồn tại nhiều công ty cổ phần, trong đó một bộ phận cổ đông là người lao động. Nhờ nắm giữ cổ phần nên hàng năm người lao động được chia một phần cổ tức. Do vậy, trong m có một phần cổ tức của cổ đông là người lao động (m5).
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, xuất hiện nhiều hình thức bóc lột giá trị thặng dư mới đáng phê phán hơn nhiều so với hình bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản trong phân tích của Mác.
Điều này thể hiện:
Một là, do tỷ lệ lao động thiếu việc làm và thất nghiệp cao, nhất là khu vực nông thôn ở Việt Nam, dẫn đến nhiều doanh nghiệp lợi dụng tình trạng này trả tiền công cho người lao động dưới giá trị sức lao động hoặc không ký hợp đồng với người lao động, hay chỉ ký hợp đồng lao động tạm thời, hoặc không thực hiện các nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…
với người lao động. Điều này dẫn đến tình trạng chất lượng sống của công nhân thấp, nhiều rủi ro và không có tích lũy cho tương lai, bần cùng hóa người lao động. Do vậy, Nhà nước cần có chính sách quản lý tình trạng này, đặc biệt là xây dựng lại chính sách tiền lương tối thiểu cho từng vùng miền, đối tượng phù hợp để đảm bảo mức sống cho người lao động, chính sách bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Tăng cường quản lý nhà nước về lao động việc làm để kiểm soát tình trạng vi phạm trên.
Hai là, hiện nay mặc dù các doanh nghiệp ngày càng tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động nhưng điều đó không có nghĩa là cường độ lao động của người lao động được giảm. Tuy nhiên, do áp dụng tự động hóa và công nghệ thông tin, công nghệ quản lý mới nên người lao động một mặt phải làm việc căng thẳng theo dây chuyền, thiết bị tự động; mặt khác, trong nhiều công việc, nhất là các công việc trí óc, người lao động không còn khái niệm thời gian làm việc trong ngày mà thay vào đó là phải hoàn thành mục tiêu công việc.
Do đó, tình trạng người lao động bị căng thẳng, trầm cảm,… ngày càng phổ biến, dẫn đến những hệ lụy lớn về mặt xã hội.
Ba là, tình trạng các vụ án tham nhũng tăng; tình trạng doanh nghiệp vì lợi nhuận sẵn sàng tàn phá tài nguyên môi trường; tình trạng hàng gian, hàng giả, hàng quá hạn sử dụng… vẫn còn phổ biến trên thị trường; tình trạng nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sử dụng lao động trẻ em, người già; tình trạng chăn dắt người già, trẻ em ăn xin, bán vé số… Đây là những hình thức bóc lột đáng phê phán hơn nhiều so với nhà tư bản tạo công ăn việc làm cho người lao động, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.
Thứ tư, về giá trị thặng dư siêu ngạch, Mác cho rằng trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng trong phạm vi xã hội thì nó là hiện tượng thường xuyên tồn tại. Việc chiếm đoạt giá trị thặng dư siêu ngạch có tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ sản xuất, bởi vì tư bản lớn có khả năng áp dụng tất cả các thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản lớn có thể hạ giá hàng của mình xuống thấp hơn giá trị xã hội, hy sinh một phần giá trị thặng dư siêu ngạch, và bằng cách đó, họ thúc đẩy sự phá sản của các đối thủ của mình. Khả năng sản xuất ra giá trị thặng dư siêu ngạch có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền và trong thời đại ngày nay. Các tổ chức độc quyền lớn thu được lợi nhuận siêu ngạch không chỉ bằng cách duy trì giá cả độc quyền cao. Do áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh, nên họ ở vào thế có lợi hơn so với các tư bản nhỏ và vừa. Nhờ đó, giá trị thặng dư siêu ngạch biến thành nguồn thu khá ổn định của lợi nhuận siêu ngạch độc quyền. Việc đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong bối cảnh cách mạng khoa
học công nghệ hiện nay cho phép giới tư bản độc quyền lớn dựa trên cơ sở đó thu lợi nhuận siêu ngạch kếch xù.
Tóm lại, mặc dù đã trải qua gần hai thế kỷ, song những nguyên lý, quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật về sản xuất giá trị thặng dư mà C.Mác đã phát hiện vẫn giữ nguyên giá trị thời đại. Tuy nhiên, do thực tiễn đã thay đổi rất nhiều so với lúc C.Mác viết tác phẩm “Tư bản”, vì vậy, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói chung và lý luận giá trị thặng dư nói riêng ngày nay đã có sự điều chỉnh. Không hoàn toàn như trước đây, mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị chủ yếu là để phê phán phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, vạch trần bản chất bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản cổ điển và xu hướng thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội tốt đẹp hơn. Hiện nay, bên cạnh mục đích nêu trên, chúng ta còn có mục đích quan trọng là nghiên cứu, khai thác học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, gắn kết biện chứng giữa thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất với từng bước xác lập quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp.
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
TS Lưu Thị Kim Hoa*