Chương 8: CÁC KIỂU BỜ BIỂN
8.2. Đặc điểm bờ biển cát
8.2.3. Đồng bằng ven biển
a. Phân loại các đồng bằng ven biển
Các đồng bằng ven biển thường có quan hệ chặt chẽ với quá trình biển lùi, trong khi quá trình hình thành vùng cửa sông lại gắn với quá trình biển tiến. Tuy nhiên, có thể thấy sự tồn tại kết hợp của 2 quá trình này khi có sự phát triển xen kẽ giữa chúng. Cửa Ba Lạt (Nam định-Thái Bình), cửa Nam Triệu (Hải Phòng), cửa sông Sài Gòn v.v… là những ví dụ điển hình về sự hình thành của các bãi triều và cửa sông.
Các đồng bằng ven biển hình thành do vật chất từ sông mang ra và các vật chất từ biển mang đến, do vậy đồng bằng ven biển là một môi trường vừa mang đặc tính sông, vừa mang đặc tính biển và rất khó phân biệt đâu là ảnh hưởng của sông và đâu là ảnh hưởng của biển, nhưng có một điều rõ ràng nó được bắt đầu từ biển và dần dần trở thành một vùng đất. Điểm bắt đầu của đồng bằng ven biển là nơi các vật chất trong sông, xói mòn từ bề mặt lưu vực mang theo dòng nước và lắng đọng lại ngoài cửa sông giáp biển. Do nguồn gốc ban đầu từ sông, nó bắt đầu hình thành khi những vật chất mang ra từ đất liền lớn hơn lượng bị kéo đi dưới tác dụng của sóng, gió và dòng triều.
Dù nguồn gốc hình thành trái ngược với cửa sông, nhưng đồng bằng ven biển chịu tác động trực tiếp của sông, thuỷ triều và sóng biển. ảnh hưởng của các nhân tố này quyết định hình dạng, đặc tính của mỗi cửa sông tới sự phát triển của nó. Biểu đồ tam giác của William Galloway cho ta biết phân loại các đồng bằng ven biển theo 3 nhân tố ảnh hưởng chính và được thể hiện trên hình 8-7.
Hình 8-7: Biểu đồ William Galloway phân loại đồng bằng ven biển b. Hình dạng của đồng bằng
Sự hình thành đồng bằng phụ thuộc vào tương tác giữa dòng chảy trong sông, dòng triều, sóng và bùn cát. Dòng chảy từ trong sông ra có lưu tốc giảm dần nên sức tải cát cũng giảm, do vậy bùn cát sẽ bồi lắng ở vùng cửa sông. Các hạt thô lắng chìm trước tiên, tiếp theo là các hạt mịn. Tại chân phía biển của đồng bằng, bùn cát lơ lửng mang ra từ sông lắng đọng. Lớp lắng đọng này theo thời gian sẽ dày lên và phát triển ra phía thềm lục địa.
Tổng lượng bùn cát lắng đọng tại mặt trước đồng bằng phụ thuộc vào tương tác giữa dòng chảy trong sông, dòng triều và sóng. Dạng phổ thông là các bãi cát ngầm hình thành ngay phía trước cửa chảy ra biển và là nguyên nhân tạo nhánh trong hệ thống lạch triều, tiếp theo bùn cát lắng đọng hai bên bãi dọc theo lạch triều. Do các bãi cát ngầm chắn ngang cửa sông gây hiện tượng dâng nước trước khi chảy ra biển. Khi lượng nước vượt bờ, chảy tràn trên bãi thì bùn cát cũng được phân tán theo các nhánh của lạch triều và bao giờ các hạt mịn cũng chìm lắng cuối cùng tại cửa của các lạch triều chảy trực tiếp vào biển. Khi các đồng bằng này hình thành trong môi trường triều nhỏ và sóng yếu, thì có thể nói đồng bằng này mang tính lục địa ưu thế. Nó có thể phát triển thành đồng bằng dạng hình chân chim. Ví dụ của dạng đồng bằng này là các đồng bằng sông Mississippi (hình 8-8) và sông Danube, Rumani (hình 8-9) hay đồng bằng sông Cửu long (Việt Nam)
Hình 8-8: Đồng bằng sông Mississippi
Hình 8-9: Quá trình phát triển của đồng bằng Danube, Romania (Bird, 1984) Các đồng bằng chịu ảnh hưởng trội của thuỷ triều hình thành trong điều kiện độ lớn triều lớn hay dòng triều là đáng kể. Đường bờ loại này, sóng thường từ trung bình đến nhỏ và dòng ven bờ khá yếu. Các đồng bằng loại này tương đồng với vùng cửa sông vì chúng tạo nên các vùng đầm phá, đầm lầy và bãi triều. Ví dụ điển hình của loại đồng bằng này là đồng bằng sông Fly thuộc bờ biển nam Papua New Guinea (hình 8-10).
Khi sóng trong năm lớn, các bãi cát ngầm bị ảnh hưởng của sóng. Do ảnh hưởng của sóng, cát tại đường bờ sẽ tự sắp xếp lại dưới ảnh hưởng dòng ven và dòng vuông góc với bờ. Tuỳ thuộc vào hướng sóng đến mà quyết định hình dạng của đồng bằng là đối xứng hay bất đối xứng. Trường hợp đối xứng xảy ra khi hướng sóng vuông góc với đường bờ (hình 8-11).
Hình 8-10: Đồng bằng sông Fly, Papua New Guinea
Hình 8-11: Sự hình thành các đồng bằng do sóng chiếm ưu thế
Các đồng bằng hình thành do sóng thường có đường bờ khá bằng phẳng với các bờ cát là chủ yếu và thường có rất ít nhánh sông chảy ra, nhiều đồng bằng chỉ có duy nhất một sông chảy ra. Đồng bằng do sóng tạo ra thường nhỏ hơn đồng bằng do các nguyên nhân khác tạo thành vì năng lượng sóng tác động vào mặt trước của động bằng mạnh hơn năng lượng mang đến từ dòng sông. Khi sóng tác động vào đồng bằng đủ lớn thì bùn cát từ sông mang ra bị đẩy hết khỏi cửa sông và đồng bằng sẽ chìm dần và cuối cùng biến mất.
Có 2 hình dạng điển hình cho loại đồng bằng này. Loại phổ biến nhất là hình nhọn đối xứng. Ví dụ điển hình loại này là đồng bằng Sao Francisco ở Brazil (hình 8-12). Loại còn lại đặc trưng cho dòng ven bờ khá mạnh. Bãi cát ngầm hình thành, phát triển ngăn chặn sự phát triển của dùng đất ngập nước, bao phủ trên đồng bằng. Ví dụ điển hình loại này là đồng bằng sông Senegal River trên hình 8-13 hay đồng bằng sông Ebro, Tây Ban Nha (hình 8-14).
Hình 8-12: Đồng bằng Sao Francisco, Brazil (Wright and Coleman, 1972)
Hình 8-13: Đồng bằng sông Senegan
Hình 8.14: Đồng bằng Ebro, Tây Ban Nha (Wright and Coleman, 1972) c. Hình thái địa mạo đồng bằng
Phần phía trong và phần phẳng chính là đồng bằng châu thổ (hình 8-15). Phần trên chỉ đơn thuần mở rộng thêm trên phần đất nơi các nhánh của dòng sông từ lục địa đổ ra
biển. Khi nước tràn bờ, bùn cát, đặc biệt là những hạt thô sẽ tràn vào và lắng chìm tạo nên dải đất cao ven sông. Dải đất này giống như con đê tự nhiên có cao trình cao hơn từ 1-2 m so với xung quanh. Vào thời kỳ lũ, đoạn bờ cao này hoặc vỡ tự nhiên do tràn nước tại những điểm cao trình thấp hoặc do con người chủ động đào ra cho nước tràn vào và bùn cát mang theo dòng nước đi vào và một lớp bùn cát hình nan quạt lắng đọng tại khu vực bị vỡ. Dạng địa hình này có thể phát triển rộng tới hàng chục km ở phần trên của đồng bằng.
Dạng địa mạo chủ yếu của đồng bằng châu thổ như dải đất cao tự nhiên, dốc thoải và mở rộng, các đầm phá và các hố trũng cục bộ được phân biệt dựa trên cao trình, đặc tính của bùn cát và hệ thực vật tồn tại trên đó. Thời gian trôi đi, lũ lụt và các quá trình tự nhiên khác tiếp tục mang bùn cát bồi đắp lên vùng đất thấp để nó trở thành đồng bằng châu thổ với những dải đất bằng phẳng xen kẽ với các hồ ao, đầm lầy, đất ngập nước. Phía trong của những đoạn cong của sông lớp phù sa sông biển dày hơn, nhưng vật chất bồi đắp cũng đa dạng hơn gồm cát, sỏi và các hạt mịn. Những điểm này thường cao hơn xung quanh và được gọi là sống đất cao. Nơi trước kia, kênh rạch chạy qua vùng đồng bằng châu thổ thường là những dải đất thấp hơn và dễ nhận biết trên đồng bằng
Hình 8-15: Dạng địa mạo cơ bản của đồng bằng châu thổ
Đây là vùng đất hoà quyện giữa phù sa, nước ngọt và nước mặn đã tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Nguồn lợi tự nhiên phong phú và đa dạng là điều kiện để nơi đây trở thành miền đất mà cư dân đến sinh sống và trở thành vùng đất đông dân nhất. Tuy nhiên, vùng đất đông dân này cũng là nhân tố tiềm ẩn cho việc tàn phá tự nhiên.
d. Quan hệ với địa chất
Đồng bằng châu thổ hình thành ở mọi lục địa, trong các điều kiện thời tiết khác nhau, nhưng điều kiện địa chất thì lại gần như giống nhau. Bờ biển với các thành tạo của nó
sẽ cho ta biết điều kiện hình thành của nó. Dòng sông chở bùn cát từ bề mặt đất trong lục địa mang ra biển. Rìa phía biển, thềm lục địa rộng lớn và bằng phẳng là điều kiện tốt để bùn cát lắng đọng, và đó là điều kiện giảm năng lượng và độ lớn của sóng tới.
Đồng bằng Sao Francisco ở Nam Mỹ và Senegal ở châu Phi phát triển dạng đường bờ mài mòn. Biển với đặc tính mài mòn tạo ra thềm lục địa do sóng và thủy triều.
Các đồng bằng rộng lớn phát triển trên các vật chất kiến tạo. Các ví dụ điển hình là đồng bằng sông Mississippi trong vịnh Mexico; Đồng bằng sông Rhone, Nile, Po và Ebro ở biển Địa Trung Hải và các đồng bằng rất lớn ở nam Trung quốc.
Hầu hết các đồng bằng châu thổ đang phát triển hiện nay là đồng bằng trẻ có khi chỉ vài trăm tuổi. Vì đồng bằng phát triển ven biển nên sự tồn tại của nó một phần phụ thuộc vào mực nước biển, vì vậy mực nước biển tăng là rủi ro. Trong thời kỳ băng hà, mực nước biển rất thấp và sông ngòi cắt qua vùng thềm lục địa hiện tại và bùn cát được bồi tụ ở cửa hoặc lân cận điểm cuối của thềm lục địa. Lượng bùn cát lơ lửng này chảy xuống sườn dưới dạng dòng rối, mật độ cao gọi là dòng bùn. Đồng bằng châu thổ mới không hình thành trong thời kỳ này và đồng bằng hình thành trong thời kỳ trước chỉ còn thấy dấu vết của những con sông cũ chảy trên vùng thềm lục địa gần với vị trí của đường bờ hiện tại.
Băng tan làm mực nước biển tăng nhanh và cửa sông mở trở lại làm cản trở việc phát triển của đồng bằng. Cuối cùng khoảng 7000 năm trước, mực nước biển ở kỷ Holocene tăng một cách chậm chạp và ở một số nơi trên thế giới gần như ổn định như hiện nay. Ở những nơi có điều kiện thích hợp, đồng bằng châu thổ phát triển mạnh mẽ do lượng bùn cát từ sông mang ra lớn.
Không phải tất cả các đồng bằng hiện nay có vài nghìn năm tuổi mà rất nhiều đồng bằng đã hình thành trong thời kỳ băng hà và có một số đồng bằng hiện tại, chẳng hạn đồng bằng Mississippi (hình 8-8) và đồng bằng Niger hình thành trên đồng bằng bị vùi lấp có độ tuối hàng chục triệu năm. Vùng thượng nguồn của đồng bằng này rất cổ, nhưng những phần gần biển chỉ có độ tuổi từ 3000 đến 6000 năm tuổi. Phần hạ lưu đồng bằng sông Mississippi gồm 16 phần khác nhau, phần mới nhất chỉ khoảng 600 năm tuổi được bồi đắp từ nguồn sông, sóng và dòng triều.