Chương 11: QUẢN LÝ DẢI VEN BỜ
11.2. Những thay đổi mang tính toàn cầu
Với sự tăng nhanh dân số thế giới, đặc biệt đối với vùng ven biển. Điều này thể hiện không chỉ là con số tuyệt đối mà còn ở tỷ lệ phần trăm của số dân thế giới (hình 11-1).
Họ sống ở các thành phố rất lớn và phần lớn các thành phố này này trên bờ các đại dương (bảng 11-1 và hình 11-2).
Thành phố Nước Dân số (triệu người)
1950 1995 2015(ước tính)
Tokyo Japan 6.92 26.96 29
Mexico City Mexico 2.88 16.56 19
Sao Paulo Brazil 2.42 16.53 20
New York USA 12.34 16.33 18
Bombay India 2.90 15.14 26
Shanghai China 5.33 13.58 18
Los Angeles USA 4.05 12.41 14
Calcutta India 4.45 11.92 17
Buenos Aires Argentina 5.04 11.80 14
Seoul South Korea 1.02 11.61 13
Beijing China 3.91 11.30 16
Osaka Japan 4.15 10.61 11
Lagos Nigeria 0.29 10.29 25
Rio de Janeiro Brazil 2.86 10.18 12
Delhi India 1.39 9.90 17
Karachi Pakistan 1.03 9.77 19
Cairo Egypt 2.41 9.69 14
Paris France 5.44 9.52 10
Tianjin China 2.37 9.42 14
Moscow Russia 5.36 9.30 9
Manila Philippines 1.54 9.29 15
Jakarta Indonesia 1.45 8.62 14
Dacca Bangladesh 0.42 8.55 19
London UK 8.73 7.64 8
Bảng 11-1: Dân số các đô thị (Các thành phố nằm sâu trong lục địa chữ đậm) Tất cả các hoạt động kinh tế xã hội của dải ven bờ đều bị hạn chế bởi không gian hẹp và ngày càng nhiều các hoạt động của dải ven biển đang phải cạnh tranh để tìm một không gian. Điều đó cũng có nghĩa là phần lớn đất đai vùng ven biển dành cho dân sinh và các khu vực này cũng tiềm ẩn một khả năng rủi ro cao vì họ sống rất gần biển, đương đầu trực tiếp với gió bão và nước dâng và vùng mà hình thái, địa mạo cũng thay đổi rất lớn. áp lực tăng lên của dải ven biển cũng dẫn tới mâu thuẫn về sử dụng không gian vì không phải khái niệm khai thác tổng hợp được áp dụng cho mọi quốc gia trên thế giới. Điều này có thể giải quyết với việc thi hành các qui định chặt chẽ về không gian, mà các qui định này phải được xây dựng như là một trong những bộ luật đầu tiên cho dải ven biển. Điều này hoàn toàn không dễ vì tất cả các hoạt động dường như cũng chi phối các nhà làm luật khi họ quan tâm hơn đến lĩnh vực mà mình quan tâm.
Hình 11-1: Phát triển dân số thế giới (Phần đậm là dân số vùng ven biển)
276
Hình 11-2: Phát triển của các đô thị khổng lồ của thế giới
Một vấn đề xuất hiện là tài nguyên tự nhiên của dải ven biển không thể đáp ứng được nhu cầu cần thiết. Nguồn tài nguyên phong phú ở dải ven biển đang bị cạn kiệt nhanh chóng, điều này gây nguy hiểm không ít cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái cả ở phần mặt nước cũng như trong đất liền. Để đảm bảo tính bền vững của dải ven biển, chỉ có một phương thuốc thần diệu là vấn đề sinh thái phải được quan tâm trong qui hoạch không gian vùng ven biển, hay vấn đề quản lý tổng hợp. Phát triển bền vững được định nghĩa như là một chiến lược mà thế hệ hiện tại sử dụng không làm suy thoái và ảnh hưởng tới nguồn lợi dành cho các thế hệ sau.
11.2.2. Sự thay đổi khí hậu và mực nước biển tăng
Theo tuổi địa chất, sự thay đổi khí hậu là khá phổ biến. Sự thay đổi này xảy ra khi các vùng địa máng và các đứt gãy trượt lên nhau và đi qua các vùng khí hậu khác nhau.
Chúng cũng có qui mô toàn cầu mà nguyên nhân cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Quá trình phun của núi lửa hoặc các thiên thạch đóng vai trò lớn. Chúng ta có thể khẳng định được sự xuất hiện lại của thời kỳ băng hà trong lịch sử phát triển địa chất gần đây. Do vậy chúng ta có thể khẳng định rằng điều kiện khí hậu cũng như mực nước biển hiện nay sẽ tiếp tục thay đổi. Hay nói cách khác sự thay đổi là điều tất nhiên và dựa trên các quan trắc về lịch sử địa chất gần đây cho thấy rằng sự thay đổi xảy ra rất nhanh trên một qui mô lớn. Bất cứ một sự thay đổi nào về nhiệt độ toàn cầu sẽ tác động đến sự thay đổi mực nước biển. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng sự tăng của mực nước biển trong những thế kỷ gần đây là trung bình. Chính điều này đóng góp cho cuộc sống, hoạt động kinh tế và vui chơi giải trí tại dải ven biển.
Do việc con người sử dụng quá nhiều nguồn năng lượng từ các hóa thạch của thế kỷ gần đây, nên chúng ta phải đưa thêm vai trò của con người vào khi xem xét hệ thống.
Sự phát xạ của co2 vào không khí là nguyên nhân gây ra một tấm màn ngăn cách trong bầu khí quyển còn gọi là hiệu ứng nhà kính và đó là nguyên nhân của nhiệt độ không khí tăng trên toàn bộ trái đất. Các tính toán để ước lượng nhiệt độ tăng và hiệu ứng của nó đến khí hậu của trái đất. Mô hình để tính toán mang tính chất thăm dò vì chúng ta không biết được tất cả các thông số và sự đóng góp của chúng và vì vậy không có khả năng để xác lập tính đúng đắn của mô hình. Thời gian quan trắc quá ngắn nên không đủ để kiểm định mô hình. Tuy nhiên, có thể thấy rằng hiệu ứng nhà kính sẽ làm thay đổi nhiệt độ và dẫn tới sự thay đổi của khí hậu trái đất. Và kết quả rõ nhất là đẩy nhanh sự dâng lên của mực nước biển do băng tan ở 2 cực. Sự thay đổi này cúng làm thay đổi chế độ mưa bão ở các vùng khác nhau trên trái đất. Cường suất thay đổi mực nước biển cũng rất khác nhau, nhưng các dự báo chỉ ra rằng trong thế kỷ 21, mực nước biển có thể tăng lên khoảng 0.5m. Và nếu đây là xu thế chung của toàn thế giới thì nhiều vùng dân cư dân cư đông đúc sẽ bị ngập chìm trong nước.
Sự nóng lên của lớp vỏ trái đất do hiệu ứng nhà kính không chỉ làm nước biển tăng mà ở nhiều vùng duyên hải, do lấy nước ngầm lên quá mức dùng cho sinh hoạt và cho nông nghiệp làm mực nước ngầm hạ thấp và đất sẽ bị sụt lún. Đây cũng là mối nguy hiểm tiềm tàng khi nước biển tràn vào.
Hiện tượng sụt lún đất xảy ra ở Hà lan được biểu diễn ở hình 11-3. Các đô thị lớn như Băngkok, Thái Lan hay Jakarta (Indonesia).
Hình 11-3: Hạ thấp mực nước ngầm và tăng mực nước biển ở Hà Lan Ở vùng cửa sông và đồng bằng ven biển, có sự tổ hợp của các nhân tố mực nước biển tăng, sụt lún đất, tăng lên của lưu lượng từ trong sông và tăng lên của nước dâng do bão. Hiệu ứng phức hợp này là áp lực ngày một tăng cho vùng ven biển.
11.2.3. Nhiễm bẩn
Trong thực tế, sự phát xạ của các khí nhà kính gây ra do nhiều nguyên nhân: chất thải từ các hoạt động kinh tế và sinh hoạt vào môi trường. Vào giữa những năm 70 của thế kỷ 20, có thể nhận thấy rằng các chất thải công nghiệp như các kim loại nặng, hydroxit carbon, các chất thải phóng xạ nguyên tử thải thẳng vào sông biển trên một qui mô lớn. Đặc biệt các kim loại nặng và hydroxit carbon thường bám vào các hạt sét do các
278
lực điện hóa và chính theo cách này các chất lơ lửng phát tán rộng ra cùng với dòng chảy sông ngòi. Các chất nhiễm bẩn tích tụ trong những vùng các hạt mịn chìm lắng mà chúng lại là một mắt xích trong chu trình thức ăn của các thủy động vật. Các vùng đồng bằng sông biển và cửa sông ven biển là những nơi chịu ảnh hưởng nặng của quá trình này. Nhiễm bẩn kiểu này xảy ra đầu tiên ở Nhật Bản, nơi có những cộng đồng dân cư sống tách biệt, mà tập quán sinh hoạt tạo nên quá trình tích lũ chất bẩn và gây ra những bệnh rất nguy hiểm . Những bệnh này gắn với việc sử dụng thực phẩm có hàm lượng kim loại nặng và thuốc trừ sâu rất cao.
Một số tổ chức phi chính phủ đã cảnh báo và đấu tranh cho những vấn đề này và một hiệp ước mang tính quốc tế đầu tiên đã được các nước vùng biển Bắc cùng ký nhằm hạn chế lượng chất thải đổ vào sông biển. Dần dần, số quốc gia tham gia công ước tăng dần. Các loại chất thải cũng được qui định rõ hơn cũng như các giải pháp đối phó với hiện tượng nhiễm bẩn cũng như mức độ có thể chấp nhận được trong thực tế. Khu vực cảng là khu vực dễ bị nhiễm bẩn vì bùn cát nạo vét từ các cảng thường để lấp đầy các vùng xung quanh hay các vùng nước, hay đất liền có hàm lượng hóa chất độc rất cao. Cách chôn chất thải kiểu này phải được hạn chế tối đa để tránh ô nhiễm. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này, một số quốc gia phát triển thuê đất của các quốc gia khác để chôn lấp chất thải độc hại, gây nên những vấn đề nguy hiểm cho các quốc gia khác. Hiện nay, các qui định của các hiệp ước quốc tế đã được cụ thể hóa trong luật của nhiều quốc gia.
Với qui định này, nước thải đang được giải quyết từng bước, tuy nhiên chôn lấp các loại bùn cát bẩn vẫn là vấn đề vô cùng phức tạp. Ở hầu hết các cảng châu Âu và Bắc Mỹ, người ta đang nghiên cứu các phương pháp nạo vét và các giải pháp chôn lấp bùn cát bẩn trong cảng và luồng tàu. Các điểm chôn lấp phải đảm bảo hoàn toàn không có hiện tượng rò rỉ và thẩm lậu của loại bùn cát này ra môi trường xung quanh. Tuy nhiên, việc cố định các chất thải loại này là vô cùng tốn kém.
Hợp tác quốc tế cũng phải đặt ra để giải quyết vấn đề nhiễm bẩn ở khu vực biên giới các quốc gia. Vấn đề này cần đặc biệt quan tâm với các quốc gia đang phát triển vì thiếu vốn để có những biện pháp khống chế nguồn nhiễm bẩn và ở các vùng ven biển nơi trình độ dân trí còn rất thấp thì dễ xảy ra các bệnh tương tự như đã xảy ra ở Nhật Bản trước đây.