Chương 2: SỰ RA ĐỜI CỦA VŨ TRỤ TỚI VIỆC HÌNH THÀNH ĐƯỜNG BỜ
2.5. Đường bờ biển Việt Nam
2.5.1. Lịch sử phát triển địa chất của đường bờ biển Việt Nam
Đường bờ biển Việt nam có tổng chiều dài 3254 km bao gồm cả 2 đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mê Kông và đường bờ bao quang các đảo. Hướng chung của đường bờ theo 2 trục kiến tạo cơ bản Tây Bắc - Đông Nam và Đông bắc - Tây Nam (Hoffet 1933; Fromaget 1941). Nếp gấp và đứt gẫy chính chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phù hợp với phần lớn đường bờ biển thuộc biển Đông và Vịnh Thái lan, các dãy núi ở miền Trung Việt nam, các lưu vực sông lớn như sông Hồng và Sông Mê Kông. Ở miền Bắc, các uốn nếp và đứt gãy thuộc kỷ thứ 3 hình thành lưu vực sông Hồng do trầm tích Neogene sâu hàng ngàn mét. Ở phía Nam và Tây Bắc - Đông nam, các đứt gẫy hình thành ở kỷ thứ tư còn thấy ở trên mặt. Cấu trúc ở những lớp sâu hơn chủ yếu theo hướng Đông bắc - Tây Nam (Hồ Mạnh Trung, 1969). Hướng này tồn tại từ mũi Cà Mau đến mũi Dinh ở phía Nam và đoạn từ Thanh Hóa đến Quảng Ninh ở phía Bắc.
Vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông rộng lớn được bao phủ bởi các trầm tích thuộc kỷ Holocene. Phần lớn các đá gốc granit, grey, reolit, porphyrites, schists tiền Cambri hoặc Paleozoi và một phần trầm tích tuổi Mezoroi có nguồn gốc lục địa bao phủ phần lớn phía tây trung bộ.
Từ Đà Nẵng ra phía bắc, hàng loạt các uốn nếp và đứt gãy theo hướng tây bắc - đông nam với phần lớn các đá hình thành trong kỷ Paleozoic and Mesozoic. Phía đông bắc của đồng bằng sông Hồng cũng có cấu trúc địa chất tương tự.
Các dãy núi phần miền trung nằm kề cận đường bờ biển, nơi đồng bằng chỉ rộng từ 30 - 50 km. Những dãy núi này là khởi nguồn của các con sông ngắn chảy ra biển. Phía nam của Qui Nhơn đến Vũng Tàu, phía đông bắc của lưu vực sông Mê Kông là các dãy núi có độ cao xấp xỉ 2000 m lan gần ra đến bờ biển.
Dọc theo đường bờ biển Việt Nam và các đảo phía ngoài như đảo Bạch Long Vĩ trên vịnh Bắc Bộ, đảo Côn Sơn và hàng loạt đảo nhỏ biển Tây trên vịnh Thái Lan còn để lại các dấu hiệu chứng tỏ mực nước biển trước đây cao hơn mực nước hiện nay là 1-2 m và 4-5 m (Saurin 1955, 1956, 1957, 1963; Fontaine 1967, 1968; Trần Tân Tá, 1967). Ở một số vùng như mũi Cà Mau, Vũng Tàu và đảo Phú Quốc, các dấu hiệu cho thấy mực nước biển trước đây ở các cao độ +10 -15m, gần Phan Rang là +50 m và 75- 80 m. Điều này chứng tỏ khu vực nằm trong vùng nâng của lớp vỏ trái đất. Ở các độ sâu 1-2 m và 4-5 m người ta tìm thấy các trầm tích vỏ sò, hến và san hô. Dấu tích san hô, sò còn thấy trong đất đá, hang động và các dải đá ngầm. Các trầm tích ở cao độ này không bị đóng cứng hoặc phong hóa thành đá ong. Bằng việc phân tích các hóa thạch cổ cho thấy: vật chất ở độ cao 4-5 m gần Cà Ná có tuổi 4500 năm trước công nguyên (Saurin, 1963), trong khi vật chất ở độ cao 1- 2 m chỉ có tuổi khoảng 2,300 năm trước công nguyên (Fontaine 1968). Ở độ cao 10 -15 m là các trầm tích gồm vỏ sò, hến và san hô bị đóng cứng và phong hóa có tuổi khoảng 18,500 năm trước công nguyên, tuy nhiên tuổi này không đáng tin cậy vì mực nước biển không bao giờ đạt đến cao độ này trong kỷ băng hà. Cũng không rõ mực nước biển ở độ cao 10 -15 m xuất hiện vào thời kỳ nào.
Trừ 2 đồng bằng, phần còn lại là đường bờ đá, bờ cát nằm giữa các cửa sông, đầm phá.
San hô phát triển dọc theo các bờ đá và các đảo như Bạch Long Vĩ, Côn Sơn, Thổ Chu nơi không có dòng chảy từ trong sông ra.
Dòng chảy ven bờ biển Việt Nam có hướng từ Bắc vào Nam trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 là thời kỳ gió mùa đông bắc. Xung quanh mũi Cà Mau dòng chảy đổi hướng tây bắc chảy vào vịnh Thái Lan, trong khi ở vịnh Thái Lan có một dòng biển có hướng chảy ngược lên phía bắc dọc theo bờ biển.
Trong thời kỳ tháng 7, tháng 8 - thời kỳ gió mùa Tây nam, dòng biển lại có hướng tây nam ở phía biển tây thuộc vịnh Thái Lan và khi đi qua mũi Cà Mau chuyển hướng Đông Nam. Trong vịnh Bắc bộ và dọc theo đường bờ đi qua mũi Lớn, gianh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa, dòng biển chảy về hướng nam. Tốc độ dòng chảy trung bình tháng 1 khoảng 15 - 85 cm/s và tháng 7 là 15 - 40cm/s.
Tuy gió mùa chiếm ưu thế, nhưng dọc theo bờ biển phía tây trong vùng thềm lục địa vịnh Thái Lan lại có sự thay thế của gió biển vào ban ngày và gió đất vào ban đêm, trong khi dọc theo bờ biển phía đông gió có xu thế bị lệch hướng song song với đường bờ. Sóng biển có hướng trùng với hướng gió. Sóng lớn nhất xảy ra vào mùa đông
trong đoạn bờ biển hở từ Vinh đến mũi Dinh. Vịnh bắc bộ là một biển nửa kín, nên sóng lừng đi vào vịnh vào mùa đông từ hướng nam, trong khi vịnh Thái Lan lại có hướng Tây nam. Bão đi vào bờ biển nước ta từ hướng đông và đông nam từ tháng 5 đến tháng 12 và hầu như không có bão trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5. Bão chỉ xuất hiện đến vĩ độ 100Bvà ít thấy đổ bộ vào vịnh Thái Lan.
Thủy triều ở bờ biển Việt Nam khá phức tạp gồm nhật triều, bán nhật triều và triều hỗn hợp. Dòng triều nói chung là yếu. Dọc theo dải bờ biển miền Trung, dòng triều khá yếu và tăng lên đến 0.5 - 0.8 m/s dọc theo bờ biển vịnh bắc bộ. Khu vực đồng bằng sông Mê Kông, mực nước và dòng ven bờ chịu ảnh hưởng của dòng chảy trong sông đổ ra. Trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 khi mà mực nước trong sông thấp thì dòng chảy ngoài biển có thể đạt tới 1 m/s. Tuy nhiên vào thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 khi mực nước sông cao thì dòng chảy biển đạt tới 2.3 m/s.
a. Bờ biển đông bắc Việt Nam
Ở vùng đông bắc, bờ biển đá chiếm phần lớn phía bắc kéo dài tới biên giới Trung Quốc (hình 2-10). Thành tạo của đoạn bờ này chủ yếu là đá sa diệp thạch, đá cát và đá vôi tuổi Đê von và Pecmi, đá cát, đá sét macnơ tuổi Mesozoi. Địa hình trước đây bị chìm ngập trong thời kỳ hậu băng hà khi nước biển dâng, làm cho một loạt các đảo nhỏ và chỗ bờ lõm có cửa sông bị bồi lấp và hình thành các dải rừng ngập mặn.
Vịnh Bắc bộ là vịnh nông với độ sâu nước tại trung tâm khoảng 50 m với đường thềm lục địa (đường 200 m) ở phía đông của đảo Hải nam. Độ sâu trên hải đồ đã chứng tỏ sự hiện diện của lục địa chìm ở đáy biển phía bắc đồng bằng sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng khá bằng phẳng với cao trình nhỏ hơn 2 m trên mực biển trung bình và là nơi có mật độ dân khá tập trung, vùng bãi là vùng đất thấp với hệ sinh thái đất ngập nước và cây ngập mặn (Gourou, 1936). Dòng chảy từ trong sông ra biển có hướng tây nam, trong khi phần đông bắc của đồng bằng là các vịnh triều nước lợ và dải rừng ngập mặn. Tính phức hợp của bãi triều và vùng đất lầy thụt rộng đến 30 km phân bố ở trung tâm và phía nam của đồng bằng. Bãi triều khá thấp khoảng 1m trên mực biển với các đụn cát thấp được ngăn cách với nhau bởi các dải đất trũng khoảng vài trăm mét. Các bãi triều có cây cỏ mọc tự nhiên khi hình thành và dần dần được cải tạo, thau chua rửa mặn trở thành vùng đất canh tác. Các vùng đất này được bảo vệ trong điều kiện bình thường và chỉ bị ngập nước khi gặp triều cao.
Hệ thống đê bảo vệ được xây dựng từ thế kỷ thứ 11 lúc đầu chỉ có nhiệm vụ chống nước lũ từ trong sông, nhưng sau này được mở rộng ra các vùng ven biển. Vùng bãi bồi phát triển ra biển khoảng 100 m/năm ở phía nam và giảm dần khi đi lên phía bắc.
Phần phía bắc cửa sông Hồng, quá trình tiến ra biển chậm hơn, phần lớn các đoạn bờ tiến hoặc lùi cục bộ trên một đường bờ ổn định. Các số liệu cũng chỉ ra rằng vào thế kỷ 19 tốc độ tiến ra biển chỉ khoảng 30- 40 m /năm.
Hình 2-10: Địa chất vùng bờ đông bắc Việt nam
Phía tây nam của đồng bằng đến Vinh (Nghệ An, vĩ tuyến 18044’N), đường bờ hình thành do phù sa của các sông nhỏ, cửa sông bé, bãi triều hẹp và bị chắn bởi các mũi đất, bãi đá cát, đá sét có tuổi đệ tứ, kỷ phấn trắng.
b. Bờ biển miền Trung Việt Nam
Từ Vinh đến Quảng Ngãi (vĩ tuyến 15015'N) là vùng đồng bằng ven biển có chiều rộng khoảng 30 - 50 km và bị chia cắt bởi các dãy núi ăn ngang ra biển hình thành các mũi đất (hình 2-11). Các mũi nhô ra biển có thể là đá granit hoặc ryolite xuất hiện ở Ròn (Quảng Bình), Chân mây đông (Thừa Thiên - Huế), bán đảo Sơn Trà (Đà nẵng) hoặc đá bazan ở mũi Ba Làng An. Giữa chúng là các bãi biển bị chắn, bị cắt ngang bởi các con sông chảy ra biển với các dải cát thấp. Phía sau vùng bờ bị che chắn là vùng đất thấp hoặc các đầm phá như phá Tam Giang, Cầu Hai và các vùng đất, đầm phá bị lõm vào được các đụn cát che phủ (Saurin, 1944).
Phía nam Quảng Ngãi, đường bờ có xu thế quay về hướng Nam. Ở đây các dãy núi chạy sát ra biển tạo thành các mũi núi đá, các đồng bằng nhỏ, các bãi cát ngầm hoặc các mũi cát nhô ra biển (hình 2-12). Đường bờ đoạn này hình răng cưa với vô số các vịnh nhỏ, to xen kẽ ở Qui Nhơn, Sông Cầu, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam ranh và Phan Rang. Hình dạng các núi đất có hướng từ đông, đông bắc tới đông bắc, là hướng trội của gió và sóng tiến vào đường bờ. Các mũi đá chạy ra sát mét nước là đá granite,
gneiss, bazan. Giữa Quảng Ngãi và Mũi Dinh đường bờ quay hướng tây nam với vùng thềm chỉ khoảng 40-70 km, hẹp hơn rất nhiều ở các nơi khác ở vịnh bắc bộ và vịnh Thái Lan cũng như vùng biển phần phía nam vịnh bắc bộ đến đông Malaysia (Sarawak).
Hình 2-11: Địa chất vùng ven biển Trung bộ
Hình 2-12: Địa chất vùng ven biển Trung bộ c. Đường bờ biển Nam bộ
Đường bờ vùng Nam bộ hình thành bởi các trầm tích đệ tứ. Khu vực cửa sông Mê Kông và Vũng Tàu là bờ biển đá (hình 2-13). Phần phía bắc cửa sông Mê Kông có một số nhánh sông lớn, đó là các cửa sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Bé. Phía trước cửa sông Mê Kông, đường bờ lồi ra hình thành các bãi bùn và vùng đất ngập nước với các hệ rừng ngập mặn khá đa dạng. Bùn cát mang đến vùng bờ có hướng di chuyển xuống phía nam do gió mùa đông bắc, sau đó chuyển sang vịnh Thái Lan. Phần phía Nam cửa sông Mê Kông và đường bờ biển tây đến mũi Hòn Ông là những cánh rừng ngập mặn và các bãi lầy xen kẽ các đoạn bờ cát. Mũi Hòn Chơn được cấu thành từ đá vôi tuổi Paleozoic và các đảo ngoài khơi kéo dài tới quần đảo Thổ Chu được hình thành từ các vật chất tuổi Paleozoic và Mesozoic tạo thành các khối lớn và thỉnh thoảng có đoạn bờ dốc đứng. Đảo Phú Quốc với những bãi cát nằm giữa các mũi đá nhô ra biển. Giữa mũi Cà mau và mũi Rạch Giá, đường bờ có hướng Bắc Nam trùng với vùng sụt lún gần giống với đoạn bờ ở miền Trung từ Qui Nhơn đến Mũi Dinh.