Chương 8: CÁC KIỂU BỜ BIỂN
8.5. Các dạng bờ biển của Việt Nam
Bờ san hô tập trung tại khu vực bờ biển đá và các đảo ngoài khơi Quảng Ninh và Hải Phòng, các tính duyên hải Nam Trung Bộ và các đảo ngoài khơi. Các bờ đá ở phía bắc thường nhỏ, hẹp và nông (< 10m), nhưng ở phía nam, nó thường khá đa dạng. Chẳng hạn dạng bãi đá từ Nha Trang đến Cam Ranh; bãi chắn ngầm từ Phú Yên đến Khánh Hòa. Bờ biển dạng châu thổ tồn tại ở cửa sông Hồng và sông Cửu Long. bờ biển dạng san hô tồn tại ở một số đảo ngoài khơi. Các loại bờ đá và san hô đang bị uy hiếp khá trầm trọng do hoạt động của con người như phương pháp nổ mìn bắt cá, khai thác san hô cho công nghiệp xi măng, do chất thải ra biển. Bãi san hô ở đảo Cát Bà là một bãi san hô điển hình nằm trong khu bảo tồn tự nhiên của nước ta.
8.5.2. Dạng bãi vùng cửa sông
Vùng bãi ở các cửa sông lớn nằm ngoài vùng đồng bằng chẳng hạn cửa sông Cả, sông Mã có nồng độ muối thay đổi lớn theo mùa. Độ mặn trung bình khoảng 5 - 10 ppt tại khu vực gần bờ với nồng độ phù sa thay đổi từ 20 - 100 g/m3 từ mùa khô sang mùa mưa. Rừng ngập mặn với các cây họ trang, bần, mắm, vẹt ở phía bắc và tràm ở phía nam. Các loại động vật đáy, tôm của, các sinh vật phù du và các loại tảo xanh cũng rất phong phú dưới tán rừng ngập mặn.
8.5.3. Dạng đồng bằng châu thổ
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có đường bờ rất dễ biến động do các thành tạo chủ yếu là bùn và sét mịn. Đối với khu vực cửa sông hồng, đường bờ phía Thái Bình và Ninh bình được bồi mạnh với tốc độ hàng trăm mét /năm, trong khi đường bờ Nam Định đang bị xói cũng tới vài chục mét trong một năm. Gần cửa sông, độ muối khá cao, đặc biệt trong mùa khô. Môi trường nước lợ với bùn có màu nâu đỏ có hàm lượng sắt và măng gan cao khá phù hợp với cac loài cây ngập mặn họ đước, trang, vẹt và dà. Nguồn tôm cá là nguồn lợi lớn cho vùng đồng bằng châu thổ.
8.5.4. Đường bờ vùng đầm phá
Dạng đường bờ đầm phá chiếm khoảng 5% tổng chiều dài đường bờ Việt Nam và tập trung từ đoạn bờ Quảng Trị đến Ninh Thuận. Tổng diện tích mặt nước vùng đầm phá khoảng 250 - 21,600 ha được bao bọc bởi các đụn cát có chiều cao từ 2 đến 25 m và được nối với biển thông qua các cửa khá hẹp. Hệ thống đầm phá lớn nhất Việt Nam là phá Tam Giang và Cầu Hai thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Độ muối trong đầm phá thường đạt khá cao và xu thế tăng dần vào phía Nam tại Ninh Thuận, nơi có lượng mưa khoảng 700 mm trong năm và có hệ sinh thái biển giống với ngoài biển. Một loại đầm phá khác có sự thay đổi theo mùa các loài động thực vật, trong đó các loại mang tính trội nước lợ trong mùa mưa và tính trội nước mặn vào mùa khô. Tóm lại, vùng đầm phá tạo ra các hệ sinh thái có ý nghĩa lớn do lượng thức ăn khá phong phú hơn nhiều so với ngoài biển, thậm chí ngay cả mùa khô, do vậy cá, tôm, cua, các động vật thân mềm và rau câu phát triển rất tốt.
8.5.5. Cửa vào vịnh triều
Cửa sông rộng nối ra biển tập trung từ Thanh Hóa đến Bình Định thường có cửa không rộng và bị chắn bởi các bãi cát ngầm. Hiệu suất trao đổi nước phụ thuộc vào cân bằng động lực giữa lưu lượng của đầm phá, mực nước biển, sóng đánh và sự thay đổi theo mùa. Thực vật xung quanh cửa vịnh thường thưa, và thường là cây họ dừa ở những nơi có biên độ triều lớn và các loài cỏ biển ở những nơi triều nhỏ. Nguồn lợi thủy sinh nghèo và thay đổi theo mùa. Các loài chủ yếu là tôm, cua cá.
8.5.6. Đầm lầy, rừng ngập mặn và các loài cỏ biển
Đầm lầy phân bố chủ yếu ở bờ biển phía bắc từ Móng Cái đến Thanh Hóa với diện tích khoảng 74,520 ha và từ Vũng tàu đến Kiên Giang với diện tích khoảng 207,480 ha. Ở vùng miền Trung, rất ít đầm lầy (18,000 ha). Tổng diện tích đầm lầy khoảng 300,000 ha, trong đó 80 % diện tích là rừng ngập mặn với khoảng trên dưới 100 loài và các loài cỏ biển (xem bản đồ).
Diện tích rừng ngập nước chiếm khoảng 30% của đất ngập nước năm 1940. Rừng ngập mặn bị tàn phá nặng nề trong 2 cuộc chiến tranh do các chất làm rụng lá, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, và được tái trồng lại sau chiến tranh. Tuy nhiên, việc tái trồng rừng lại đứng trước nguy cơ bị tàn phá vì mở rộng các hoạt động nuôi trồng thủy sản bằng việc xây dựng các ao nuôi tôm. Việc làm các ao nuôi tôm, cá không những phá hủy môi trường, mà còn làm các ao nuôi trở nên bị phèn mặn nên năng suất nuôi trồng sẽ giảm dần, đặc biệt ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
Các vùng đầm lầy phát triển ra phía biển thường phát triển ở các vùng tam giác châu..
Các đầm lầy có giá trị kinh tế cao vì chúng cung cấp nơi đẻ trứng và con non của các loài tôm, cá, cua.
Một trong những khu bảo tồn ngập nước tự nhiên nổi tiếng là vùng RAMSA thuộc địa phận huyện Xuân Thuỷ (Nam Định)
CÂU HỎI CHƯƠNG VIII:
Câu 1: Các kiểu đường bờ cát; Lấy ví dụ minh họa
Câu 2: Các hệ sinh thái cơ bản ở vùng ven biển; Lấy ví dụ minh họa Câu 3: Các dạng bờ biển của Việt Nam; Lấy ví dụ minh họa