Chương 11: QUẢN LÝ DẢI VEN BỜ
11.4. Sự cần thiết của bài toán quản lý
Về mặt lịch sử, các hoạt động kinh tế xã hội vùng ven biển không quá nhiều cả về số lượng cũng như không gian, qui mô. Do vậy, nếu có đặt vấn đề quản lý thì thuần túy là giải pháp công trình (xây dựng công trình, bảo dưỡng và bảo vệ chống xói mòn). Gần đây, các ưu tiên khác nổi nên gồm cả bảo tồn các giá trị tự nhiên, chất lượng nước và vui chơi giải trí. Áp lực lên vùng bờ tăng dần buộc chúng ta phải xem xét và sắp xếp các ưu tiên. Kamphuis (1997) đã đưa ra danh mục các áp lực và danh mục các ưu tiên trong bảng 11-3 và bảng 11-4.
Trước hết, những người sống ngay trên dải ven biển tác động và chịu ảnh hưởng của các hoạt động này. Đó là những người dân đánh cá, thủy thủ, công nhân cảng, công nhân trong các nhà máy đặt trên dải ven biển và người buôn bán, dịch vụ. Họ sống trong điều kiện cân bằng rất mong manh với nguồn lợi biển. Gần đây việc dân số tập trung ngày một đông ra dải ven biển gây áp lực rất lớn. Nhiều vùng biển trở nên hấp dẫn do các hoạt động du lịch và nghỉ ngơi. Nơi đây cũng tập trung các khu công nghệ cao, các khu công nghiệp và là khu vực kinh tế năng động, có thu nhập cao nhất. Do sự biến động về dân số, năng động về kinh tế, cần thay đổi cách nhìn về vùng ven biển.
282
Bảng 11.3: Các áp lực của dải ven biển (Kamphuis, 1997)
Mật độ dân số
Về mặt lịch sử, dải ven biển là khu vực có mật độ dân số cao nhất 50% dân số của nước Mỹ sống ở dải ven biển
80% dân số của Australia sống ở dải ven biển
>80% dân số của Canada sống ở dải ven biển và các hồ lớn Phần lớn các thành phố lớn của thế giới tập trung ở dải ven biển
Tình hình di dân gần đây
Lớp thanh niên và những người giàu có có xu thế muốn sống ở các thành phố biển.
Tái phát triển ở vùng ven biển với các khu nghỉ ngơi sang trọng Ngày nay có rất nhiều người có đủ tiềm lực sống ở vùng ven biển, dù đầu tư rất lớn
Thu nhập ngày một cao giúp cho mọi người mua đất, xây biệt thự ở dải ven biển với
Các phương tiện vui chơi giải trí đắt tiền như thuyền buồm, lướt ván v.v…
Du lịch
Các kỳ nghỉ số người có xu thế ra biển ngày một nhiều hơn
Người ta mở mới nhiều sân bay và các tour du lịch trọn gói hấp dẫn bằng đường không
Tới các bãi biển, nên số người đến biển ngày một đông Đường bờ
Dải bờ biển rất hẹp, nhưng trên nó là rất nhiều hoạt động sống xảy ra với mật độ dân số rất cao và các hoạt động dịch vụ, sản xuất khác.
Nếu phát triển các khu vực mới thì mọi quốc gia đều chọn dải ven bờ Xói lở Hầu như đường bờ biển của mọi quốc gia đều bị xói ở mức độ khác
nhau
Áp lực lớn nhất cho dải ven biển là giá đất và các hoạt động vui chơi, giải trí diễn ra trên một dải đất hẹp, nhưng mật độ dân số rất cao nên cung ứng thường không đầy đủ và kịp thời hay nói cách khác là nhu cầu bao giờ cũng rất cao cho dải ven biển. Và cuối cùng là hiện tượng chia cắt do hiện tượng xói lở phổ biến ở dải ven bờ. Điều này yêu cầu cần có chính sách ưu tiên bảo vệ, chống xói lở mặc dù đầu tư chống xói lở đường bờ vô cùng tốn kém.
Bảng 11-4: Thay đổi các ưu tiên do nhu cầu sử dụng (Kamphuis, 1997) Ưu tiên cao nhất Các ưu tiên thấp Các ưu tiên thay đổi
Nhà ở Công nghiệp và buôn bán Đánh bắt
Vui chơi giải trí Nông nghiệp Chôn lấp chất thải Bảo tồn tự nhiên Giao thông
Nuôi trồng thủy sản Quân sự và bảo vệ biên giới
Để giải quyết vấn đề này, các phương pháp được phát triển để phân tích để đưa đến các quyết định và thực hiện các quyết định thông qua luật . Cần nhận thức rằng việc giải quyết vấn đề bằng 2 con đường (i) khoa học công nghệ thông qua thực tế và các kiến thức khoa học để xây dựng các qui hoạch và (ii) theo con đường hành chính theo quan điểm chính trị mà trong đó các kiến thức được thay thế bằng các mục tiêu qui định bởi yếu tố chính trị. Rõ ràng rằng chỉ có sự kết hợp cả 2 cách trên mới cho ta các kết quả thỏa đáng. Quyết định khôn ngoan là quyết định dựa trên các tính toán với việc xem xét tất cả các khía cạnh của vấn đề và ưu tiên phát triển trên cơ sở chính trị. Vấn đề này thể hiện ở hình 11-7 và 11-8.
Hình 11.5: Phương pháp phân tích và lựa chọn ra quyết định (Bos, 1974)
Hình 11.6: Sơ đồ phân tích lựa chọn ra quyết định
284
Hình 11-7: Quá trình lựa chọn trên cơ sở khoa học và chính trị
Mục tiêu của quản lý tổng hợp dải ven biển là xem xét, phân tích các hoạt động kinh tế xã hội trong khung cảnh môi trường tự nhiên để đưa đến một giải pháp phát triển bền vững. Cấu trúc của hệ thống và tương tác của chúng thể hiện trong hình 11-8.
Hình 11-8: Hệ thống và tương tác giữa các thành phần vùng ven biển
Thực hiện hệ thống phức tạp này đòi hỏi phải có một cách suy nghĩ phân tích logic, hệ thống theo các bước. Sơ đồ logic các bước thực hiện được thể hiện trong hình 11-9.
Bước 1
Tóm tắt vùng nghiên cứu
Bước 2
Tóm tắt các thành phần của hệ thống
Bước 4
Đánh giá tương tác của hệ thống
Bước 3
Xây dựng các kịch bản
Bước 5
Mô phỏng các phương án
Bước 6
Đánh giá phản ứng của hệ thống
Bước 7
Lựa chọn phương án
Hình 11.9: Sơ đồ logic các bước quản lý dải ven biển
Các bước tiến hành như sau:
Mô tả vùng nghiên cứu bao gồm vị trí địa lý, giới hạn, tình hình kinh tế xã hội. Đó là vành ngoài cùng của hình 11-8. Các đặc trưng của hệ thống phải tính toán và thuyết minh từ các số liệu tự nhiên, dân sinh, kinh tế.
Mô tả các thành phần của hệ thống: Ngân hàng số liệu các thành phần của hệ thống phải được khai thác, tính toán, phân tích. Nó là các thành phần nằm phía trong sơ đồ 11-8.
Xây dựng các kịch bản: Kiểm kê các thành phần của cả hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội. Đó là các mũi tên từ vòng tròn ngoài vào các vòng tròn trong. Nó được xem là các nhân tố động trong các thành phần của hệ thống. Các nhân tố này xuất hiện do nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội hoặc từ hệ thống tự nhiên.
Đánh giá tương tác của hệ thống: Mô phỏng mối tương tác giữa các thành phần của hệ thống. Trong mô phỏng này, các thành phần của hệ thống được đưa ra dưới dạng ma trận các mâu thuẫn với việc lượng hóa tác động có thể. Tác động này sẽ được sẽ được phân tích ở bước tiếp theo trong việc mô phỏng các phương án.
Mô phỏng các phương án: Với các thông tin có được ở các bước trước, thiết kế các phương án và hy vọng rằng nó sẽ được các nhóm quan tâm ủng hộ. Đó chính là hình tam giác ở chính giữa, quản lý tổng hợp. Đó có thể là thể chế hành chính hoặc tổ hợp các nhóm quan tâm. Quyết định không thể hiện quan tâm cho một nhóm riêng rẽ.
Trung tâm kiểm soát quản lý dải ven bờ vận hành cho bất kỳ một nhóm quan tâm nào đó.
Đánh giá phản ứng của hệ thống: Trong sơ đồ là các mũi tên như trong bước 4, nhưng đã được lượng hóa theo một phương án được mô phỏng trong bước 5.
Lựa chọn phương án: trong bước cuối cùng này, trung tâm kiểm soát phải kiểm tra các quyết định của cấp thẩm quyền xác định dựa trên các thứ tự ưu tiên.
Hình 11-10: Các bước liên quan tới sơ đồ hệ thống
286
Cách tiếp cận như bậc thang này đảm bảo rằng các thành phần như thực tế, lý thuyết, mục tiêu và phương tiện do quá trình quyết định được Bos đưa ra trong hình 11-11.