Chương 2: SỰ RA ĐỜI CỦA VŨ TRỤ TỚI VIỆC HÌNH THÀNH ĐƯỜNG BỜ
2.5. Đường bờ biển Việt Nam
2.5.2. Ảnh hưởng các hoạt động kinh tế xã hội đến dải bờ biển
Các hoạt động như đắp đê khai hoang lấn biển, nuôi trồng thủy sản, khai thác sa khoáng, vật liệu xây dựng, chặt phá rừng ngập mặn v.v có thể gây nên sự biến đổi bờ biển, thông thường là hiện tượng xói lở bờ. Các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra ở sâu trong lục địa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đường bờ biển, chẳng hạn xây dựng các đập nước ở thượng lưu giữ phần lớn bùn cát trên hồ chứa gây mất cân bằng bùn cát ở hạ lưu là nguyên nhân gây xói lở đường bờ biển hay việc ngăn các cửa sông cũng gây ra những biến đổi về chế độ dòng chảy, cân bằng bùn cát hay môi trường tự nhiên vốn đã được thiết lập trước đó.
a. Xói lở do khai hoang lấn biển
Việc khai hoang lấn biển thiếu khoa học dễ gây ra mất cân bằng bùn cát. Nhiều đoạn bờ trước khi có công trình lấn biển ổn định hoặc đang bồi bỗng trở nên bị xói sau khi có công trình. Theo các tài liệu lịch sử và số liệu lưu trữ tại các cơ quan chuyên môn thì quai đê lấn biển ở Tiền hải (Thái Bình) đang gây ra hiện tượng xói cục bộ cho đoạn bờ thuộc huyện Thái Thụy; Quai đê ở Bạch Long gây xói ở Giao Long (Nam Định);
Nhơn Bình, Nhơn Hải, Thành phố Qui Nhơn bị xói khi đắp các đầm nuôi tôm; bờ biển Xuân Hòa, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, Hiệp Trạch (Trà Vinh) bị xói lở mạnh khi quai đê lấn biển.
b. Xói lở do các công trình thủy lợi
Các công trình thủy lợi tưới, tiêu vùng cửa sông như cống thoát nước, kè nắn dòng, hệ thống kênh đào, mương máng tưới tiêu, các đập và hồ chứa ở đầu nguồn hay các đập ngăn các cửa sông làm thay đổi cân bằng bùn cát dẫn tới xói lở đường bờ.
Một số ví dụ điển hình là đường nối từ đất liền ra đảo Tuần Châu (Quảng Ninh); Lấp cửa sông Đình Vũ (Hải Phòng) gây xói mạnh phía bờ Cát Hải; Lấp cửa sông Sò (Nam
Định) gây xói liên tục đoạn bờ vùng Hải Hậu, Giao Thủy; Đập sông Bạng gây xói các xã Hải Thanh, Hải Bình (Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Trước khi xây cống Bạng (1978), cửa sông rộng, độ sâu nước trung bình 5 m, thuyền bè ra vào khá thuận lợi. Khi xây cống cửa sông bị lấp và thu hẹp, độ sâu nước giảm xuống chỉ còn 2 m và bờ biển bị xói cuốn trôi 200 căn nhà cùng nhiều tài sản. Nhân dân các xã vùng lân cận đã kiến nghị dỡ bỏ cống Bạng và tình hình trở lại như cũ sau một vài năm.
Một số nơi khác khi có công trình thủy lợi cũng gây diễn biến đường bờ như bờ biển Hoàng Yến (Hoàng Hóa), Quảng Tiến (Thị xã Sầm Sơn) bị xói khi có hệ thống kè Hới. Bờ Nhân Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) xói khi có đập Đá Mài; Bờ Triệu An (Triệu Phong, Quảng Trị) bị xói khi có công trình thủy lợi Thạch Hãn.
Ảnh hưởng của các sông đào, mương máng tưới tiêu tới xói lở bờ biển không lớn, nhưng cũng nên được quan tâm. Khi chưa mở cửa sông Hoàng, sông Lý (Quảng Xương) đổ vào hạ lưu sông Yên thì bờ biển Hải Châu (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) không bị xói. Tương tự bờ biển Diễn Kim (Diễn Châu, Nghệ An) bị xói lở từ khi có kênh đào Vách Bắc.
c) Do khai thác khoáng sản và các vật liệu xây dựng
Bờ biển Hàm Thuận (Bình Thuận), trước năm 1983 khi chưa khai thác cát đen (imminit) và titan thì không thấy xói lở xảy ra. Từ sau năm đó, lượng sa khoáng khai thác gần bờ, làm sâu thêm đáy biển. Khi gặp gió mùa đông bắc bờ phía nam của xã bị xói sâu vào 20 m. Hiện tượng lấy cát gần bờ xảy ra ở rất nhiều đoạn bờ biển gây hiện tượng xói bờ nghiêm trọng.
Dọc bờ biển nước ta, có rất nhiều nơi lý tưởng cho san hô phát triển. Các bãi san hô có tác dụng làm giảm năng lượng sóng đập vào bờ và cản trở dòng chảy ven bờ. Đồng thời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa làm các đoạn bờ được bồi hoặc ổn định. Việc khai thác san hô làm đá vôi xây dựng đã phá vỡ một bức tường do tự nhiên tạo ra dẫn tới hiện tượng xói bờ. Các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên là những điểm khai thác khá mạnh đã dẫn tới quá trình xói lở bờ nghiêm trọng trong những năm gần đây.
Khu vực quần đảo Trường Sa, vật chất tạo thành đảo chính là san hô hóa thạch và xác các mảnh vụn của các động vật ăn chìm tạo thành. Tuy nhiên, người ta khai thác san hô và các chế phẩm của nó để làm đồ thủ công mỹ nghệ. Bên cạnh đó việc xây dựng một số công trình ngăn chặn quá trình vận chuyển vật chất đến xung quanh đảo là nguyên nhân gây xói
d) Xói lở do phá rừng ngập mặn và cây chắn cát ven biển
Nằm trong mối tương tác giữa đất liền và biển, rừng ngập mặn là một sinh cảnh có sức hấp dẫn đặc biệt về khả năng thích nghi và là nguồn lợi tự nhiên quan trọng cho nhân dân dải ven biển. Rừng ngập mặn còn có tác dụng giảm sóng, cản dòng chảy, nơi bùn cát được giữ lại và hạn chế xói lở, bảo vệ hệ thống đê biển.
Ở nước ta, theo tác giả Phan Nguyên Hồng và Nguyễn Hoàng Trí có tới 77 loài cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở ven biển Nam Bộ, Bắc Bộ và miền Trung và chia thành 4 vùng (i) Từ Mũi Ngọc đến Đồ Sơn, (ii) đồng bằng sông Hồng từ Đồ Sơn đến Lạch Trường (Thanh Hóa), (iii) từ Lạch Trường tới Vũng Tàu và (iv) dải bờ biển Nam Bộ.
Tùy thuộc vào chế độ triều, khí hậu, địa hình, địa mạo, bốn vùng trên được phân thành 12 tiểu khu với các loại thực vật và đặc tính rừng ngập mặn khác nhau.
Khu vực I: Ven biển Đông bắc từ mũi Ngọc đến Đồ Sơn
Trong khu vực này, bờ biển bị chia cắt tạo nên các vịnh ven bờ, các cửa sông hình phễu và các đảo chắn. Các sông ngắn, dốc chảy xiết nên bùn cát được mang ra không lắng đọng gần bờ mà tản khá xa trong vùng thềm lục địa. Thêm vào đó với lượng mưa phong phú từ 1800 mm – 2500 mm là điều kiện thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển.
Thảm thực vật khu vực này phân bố rộng, nhưng cây bé, lùn do điều kiện khí hậu và do nghèo dinh dưỡng.
Khu vực II: Ven biển đồng bằng bắc bộ từ Đồ Sơn đến Lạch Trường
Đây là khu vực được cung cấp một lượng phù sa khổng lồ của hệ thống sông Hồng – Thái Bình là điều kiện thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển. Khu vực này quá trình bồi tụ rất nhanh nên các hoạt động lấn biển, xây dựng hệ thống đầm nuôi tôm phát triển với mức độ cao. Bên cạnh đó rừng ngập mặn tự nhiên hầu như bị phá hoại hoàn toàn. Hiện nay, rừng đã và đang được khôi phục do các tổ chức quốc tế tài trợ nhằm khôi phục dải rừng ngập mặn. Khu vực này hiện đang hình thành khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước (RAMSA) tại cửa sông Hồng thuộc địa phận 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Giao Thủy (Nam Định).
Khu vực III: Ven biển miền Trung từ Lạch Trường đến Vũng Tàu
Trừ đoạn bờ từ Nghệ An trở ra, đây là một dải đất hẹp chạy song song với dải Trường Sơn. Vì sông ngắn, độ dốc cao, nghèo phù sa nên không thể bồi đắp được thành các bãi lầy ven biển. Mặt khác bãi biển dốc, sâu nên cũng khó giữ được lượng bùn cát ít ỏi này. Với lượng mưa đáng kể, các điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi nên dải cây ngập mặn nếu có thì cũng rất hẹp. Rất nhiều đoạn bờ rừng ngập mặn không thể tồn tại do sóng lớn và thiếu phù sa. Cộng vào đó là hiện tượng chặt phá rừng vì mục đích mưu sinh và làm đầm nuôi tôm, các mục đích khác … mà dải rừng ngập mặn còn rất ít.
Trong khu vực này hệ cây sống trên cát chắn gió và cát được trồng nhiều trong những năm trước đây. Trong thời kỳ chiến tranh và đặc biệt trong những năm đầu của thập kỷ 90, rừng chắn cát bị tàn phá nghiêm trọng gây nên những hậu quả xấu cho vùng ven biển. Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của rừng phòng hộ, các cấp chính quyền và nhân dân đang tích cực khôi phục và trồng mới các rừng chắn cát.
Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ
Đây là khu vực bồi tụ của sông Mê Kông và sông Đồng Nai với đặc điểm địa hình bằng phẳng, giàu phù sa, ít chịu ảnh hưởng của bão đã tạo điều kiện cho hệ rừng ngập mặn rất phong phú cả về diện tích và quần xã.
Rừng ngập mặn ở nước ta đang bị thu hẹp cả về diện tích và chất lượng do chiến tranh hóa học, khai thác quá mức, phá rừng làm đầm nuôi tôm, khai hoang lấn biển lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm đồng muối, khai thác khoáng sản, đô thị hóa, đắp đê đập, làm đường sá v.v. Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn và rừng chắn gió ven biển đã gây hiện tượng xói lở các đoạn bờ thuộc Hải Lĩnh (Tĩnh Gia, Thanh Hóa), Nghi Yên (Nghi Lộc, Nghệ An), Thanh Trạch (Quảng Trạch, Quảng Bình), Bình Phú (Bình Sơn, Quảng Nam), Cần Trạch (Duyên Hải, TP. Hồ Chí Minh), Đầm Rơi (Minh Hải).
CÂU HỎI CHƯƠNG II
Câu 1: Sự tương tác của các nhân tố nào hình thành nên đường bờ?
Câu 2: Tóm tắt lý thuyết lục địa trôi hình thành biển và lục địa
Câu 3: Nguyên nhân của hiện tượng mực nước biển tăng và ảnh hưởng của nó tới đường bờ
Câu 4: Phân tích tác động của các hoạt động kinh tế xã hội tới đường bờ
Câu 5: Việt nam có bao nhiêu kiểu đường bờ? Kể tên, địa danh tương ứng và đặc điểm điển hình của kiểu đường bờ đó.
Câu 6: Phân đoạn bờ biển Việt Nam và các đặc điểm điển hình của mỗi đoạn bờ.