Phân loại theo nguồn phát sinh

Một phần của tài liệu độc học môi trường tập 2 (phần chuyên đề) (Trang 128 - 132)

ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG VỀ BỤI

11.3.5. Phân loại theo nguồn phát sinh

Có thể bao gồm các chất sau đây:

• Các chất vô cơ: từ đất, cát và bụi trong không khí (bụi lơ lửng)

• Các chất hữu cơ:

o Nguồn gốc động vật: lông, tóc, gàu, lông vũ, cặn bã, chất thải

o Nguồn gốc thực vật: phấn hoa (kích thước nhỏ nhất là 10μm), các mảnh cây cỏ đặc biệt như bông, đay, gai, gỗ, cỏ, luùa….

o Nguồn gốc sinh vật khác: bào tử (10–35μm), vi khuẩn (0,3–

35 μm), sợi nấm…

11.3.5.2. Bụi đường phố ở đô thị

Trong môi trường địa phương hoặc cộng đồng ở các đô thị, bụi trong không khí có thể do đất, cát trên đường phố, đặc biệt trong quá

trình xây dựng đô thị. Bụi do xe cộ đi lại ngoài việc làm tung bụi đất cát còn tạo ra bụi nhựa đường có thành phần là hidrocacbon đa vòng phân tử lượng cao có thể gây ung thư. Thắng xe cũng có thể tạo ra bụi amiăng. Khói do động cơ các loại xe thải ra có khi là cặn thải dưới dạng hạt bụi, đặc biệt là chì.

11.3.5.3. Buùi coõng nghieọp

Bụi trong môi trường sản xuất công nghiệp rất quan trọng và rất phức tạp. Có thể phân loại theo các cách sau:

™ Theo cách phát sinh:

o Bụi phát sinh từ sự chia nhỏ các vật liệu rắn do tác dụng cơ học hoặc có sẵn trong tự nhiên (xay, nghiền, đập, vận chuyển…)

o Khói nặng: là khí dung ngưng tụ phát sinh từ các vật thể rắn bị làm nóng đến bốc hơi rồi ngưng tụ lại, thường gặp trong các cơ sở đúc kim loại, luyện kim, hàn điện, cắt kim loại bằng mỏ hàn…

o Khói nhẹ là do sự đốt cháy các vật liệu có cacbon, các chất hữu cơ nói chung, thường gặp nhiều trong không khí đô thị.

™ Theo nguoàn goác:

o Bụi hữu cơ: là các bụi hóa chất, chất tổng hợp, các loại bụi thực vật (bụi bông, bụi đay, bụi gai…), động vật, các loại nấm mốc,… có ở trong các nhà máy hóa chất, hóa mỹ phẩm (dầu gội đầu, bột giặt, kem đánh răng…), các nhà máy chế biến thủy sản –nông sản – thực phẩm (cafe, sữa, bột ngọt) và trong nhà máy dệt, may, da giày hoặc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng khác. Đặc điển chung của bụi hữu cơ phát sinh trong các nhà máy này là có thành phần phức tạp. Tỷ lệ kích thước bụi dưới 10μm vào khoảng 40–85% lượng bụi có kích thước nhỏ hơn 10μm không nhiều.

o Bụi vô cơ: là các loại bụi khoáng chất như cát, đá, than ... và các bụi kim loại như sắt, nhôm, chì có trong các nhà máy cơ khí luyện kim, các nhà máy vật liệu gốm sứ và vật liệu xây dựng

o Bụi động vật o Bụi nhân tạo

o Bụi hỗn hợp: bụi mài

™ Theo kích thước: Dựa vào kích thước hình học người ta phân chia thành các loại bụi như sau:

o Bụi nặng (còn gọi là bụi lắng đọng) là loại bụi có đường kính d > 100μm. Dưới tác dụng của lực trọng trường, loại bụi này thường có vận tốc rơi lớn hơn không. Các loại bụi nặng là bụi đất, đá, bụi kim loại.

o Bụi lơ lửng là loại bụi có đường kính d ≤ 100μm. Loại bụi này chịu ảnh hưởng không đáng kể của lực trọng trường vì vậy chúng thường bay lơ lửng trong không gian trong một thời gian khá lâu, tương tự như các phân tử khí khác.

™ Theo mức độ xâm nhập đường hô hấp o Bụi hô hấp: thường không trông thấy

Bụi dưới 0,1μm: không ở lại trong phế nang Bụi từ 0,1–5μm: ở lại phổi từ 80–90%

o Buùi khoõng hoõ haỏp:

Từ 5–10μm: bị ngăn cản ở đường hô hấp trên Trên 10μm: thường đọng lại ở mũi, họng...

™ Theo tác hại sức khỏe

o Bụi gây nhiễm độc: chì, Hg, Mg…

o Bụi gây dị ứng, viêm mũi, nổi ban: bụi bông, gai, bụi hóa học, buùi goó….

o Bụi gây ung thư: quặng phóng xạ hoặc bụi chứa chất phóng xạ, bụi crôm (VI), As

o Bụi gây xơ hóa phổi: bụi silic, amiăng

™ Dựa vào hình dáng: có hai loại

• Bụi hạt là loại bụi có tỷ lệ chiều rộng hạt bụi trên chiều dài hạt bụi ≤ 3

• Bụi sợi là loại bụi có tỷ lệ chiều rộng hạt bụi trên chiều dài hạt bụi > 3

Bụi do phun xuất núi lửa

Trên mức độ toàn cầu, hàng năm hàng chục núi lửa đã phun lên bầu trời hàng trăm triệu tấn bụi, đặc biệt là bụi lưu huỳnh. Chúng dần dần rơi xuống mặt đất gây ô nhiễm khí quyển nặng nề, kéo dài ở những vùng xung quanh gần núi lửa. Chẳng hạn, trận phun xuất núi lửa Krakatoa ở Indonexia năm 1883 đã phun lên khí quyển 120 tấn hạt bụi rất nhỏ.

Bất kì nơi nào trên thế giới có hoạt động núi lửa thì các vùng xung quanh đó đều bị ô nhiễm bụi. Cách đây chừng 5 năm, núi lửa Pinatupo ở Philippin, sau 635 năm ngủ yên, đã thức dậy và phun ròng rã mấy tháng trời vào khí quyển hàng chục ngàn tấn bụi xám, chứa 20 triệu tấn khí SO2, tạo thành một lớp mây khổng lồ làm bầu trời một vùng tối đen đầy bụi trong nhiều tháng. Sau đó, mỗi lần gặp mưa bụi lại tạo ra lũ bùn rất kinh khủng. Tai họa này có lẽ đến năm 2010 mới khắc phục hết! Hiện nay núi lửa Pinatupo vẫn rình rập chờ phun lửa. Bụi núi lửa chứa zeolit gây ra các bệnh ung thư trung biểu mô như amiăng. Khoảng 20 triệu tấn dioxyt lưu huỳnh phun vào khí quyển ở độ cao 40 km do núi lửa Pinatupo hoạt động lại ngày 14/7/1991, đã rơi về trái đất. Màn bụi ấy chứa axit sunfuric, trước hết hình thành một dải hẹp trên xích đạo. Tiếp đó, đám mây này phải mất 2 tháng để rải ra và đi lên phía Nam Hoa Kỳ và trung tâm Châu Âu. Trường Đại Học Geneve ghi được độ giảm của tia mặt trời chiếu trực tiếp vào năm 1991 là 21%, năm 1992 là 17%. Năm 1994, đội vật lý ứng dụng về năng lượng của Trường Đại học Geneve dự đoán rằng, độ giảm ấy chỉ còn 7 hay 9 %. Nhưng theo Pierre Ineichen cũng ở trong đội ấy thì “khó mà đo được trị giá này, vì nó cùng bậc với những thay đổi hàng năm ở trên vĩ độ của chúng ta“. Đáùm mây Pinatupo đã gây thiệt hại cho Hoa Kỳ hàng triệu đô la. Tại sa mạc Mosave, ở California, hai trung tâm đồ sộ về năng lượng mặt trời mới được mở rộng đã bị thiệt hại mất 30% hiệu suất (280 MW) do bụi núi

lửa Pinatupo che mất ánh sáng mặt trời trên vùng trời của trung tâm năng lượng California.

11.3.5.4. Ô nhiễm bụi thiên thạch

Bụi thiên thạch hay còn gọi là bụi vũ trụ thường gây ô nhiễm cho không khí ở tầng cao và vai trò của nó cũng nhỏ hơn. Theo ước tính của các nhà khoa học Nga A. Ivanov và K. Florenxki, hàng năm trái đất nhận được một khối lượng bụi thiên thạch lên tới khoảng 2–

5 triệu tấn, so với khối lượng bụi gây ô nhiễm không khí thường xuyên là 9–10 triệu tấn. Bụi vũ trụ có thể rơi dần xuống mặt đất và điều cần lưu ý là chúng có thể có phóng xạ, góp phần gây ô nhiễm khớ quyeồn.

Một phần của tài liệu độc học môi trường tập 2 (phần chuyên đề) (Trang 128 - 132)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(1.100 trang)