ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG VỀ BỤI
11.9. NGUYÊN TẮC DỰ PHÒNG TÁC HẠI CỦA BỤI
Bụi có nhiều tính chất và đặc điểm khác nhau, phát sinh trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, vừa có thể gây bệnh, vừa làm thiệt hại kinh tế (làm hư hại máy móc, thiết bị hoặc khi bụi là sản phẩm công nghiệp...) và gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể người ta có thể ứng dụng các biện pháp dự phòng thích hợp.
11.9.1. Biện pháp kỹ thuật
Yêu cầu là phải đạt các tiêu chuẩn vệ sinh về bụi đối với không khí nơi làm việc và không khí xung quanh bằng các kĩ thuật chủ yếu là:
• Làm kín quy trình sản xuất.
• Thông gió, hút bụi
• Xây dựng ống khói đạt yêu cầu tỏa bụi
• Cơ giới hóa và tự động hóa các công đoạn nhiều bụi để người lao động không phải tiếp xúc với bụi.
• Thường xuyên kiểm tra nồng độ bụi trong không khí nơi làm việc nhằm đánh giá các biện pháp chống bụi bằng kĩ thuật, thực hiện các biện pháp phòng tránh và chuẩn bị các phương tiện ứng cứu thích hợp.
• Ở những nơi có nhiều bụi dễ bắt lửa cần tuân thủ chặt chẽ các quy định an toàn phòng tránh cháy nổ.
• Tại nơi làm việc có nhiều tro, bụi phải có những biện pháp hạn chế và khử bụi, ví dụ thường xuyên vẩy nước, lắp đặt hệ thống hút bụi khói hoặc che chắn chống bụi.
• Ở các xí nghiệp, nhà máy chú ý làm tốt vệ sinh môi trường ở các bộ phận sản xuất, lắp đặt các thiết bị thông gió và, khi cần thiết, lắp đặt máy hút bụi. Trong các nhà cao tầng làm bằng vật liệu sợi thủy tinh, cần lắp đặt thiết bị lọc không khí. Ở các xí nghiệp chăn nuôi gia cầm công nghiệp cũng cần lắp đặt thiết bị công nghiệp để loại trừ lông tơ.
• Ở các cơ sở chăn nuôi gia súc nhất là các trại bò sữa, cần đặt xa các trục giao thông và các cơ sở xăng dầu để tránh sản phẩm bị ô nhieóm buùi chỡ.
• Ở các nhà máy in, cần thay thế cách sắp xếp chữ bằng chì bằng công nghệ in ấn mới sử dụng máy vi tính và thiết bị in điện tử nhằm tránh gây nhiễm độc chì cho công nhân.
• Ngoài ra, để làm giảm lượng bụi bốc lên trong không khí ở các thành phố, trong mùa khô, nhất là các tháng hè, tiến hành phun nước cho ẩm đường, quy định tốc độ cho xe chạy trong thành phố, quy định những đường riêng cho xe vận tải phải chạy qua thành phố để giảm bớt khối lượng đất, bùn mang theo từ xa vào thành phố.
• Công ty vệ sinh môi trường đô thị cần vệ sinh tốt và thu gom rác rưởi cho sạch sẽ ở các đường phố và các khu vực công cộng, đồng thời nhân dân cần có ý thức giữ gìn vệ sinh và mỹ quan của đô thị, không vứt rác, chất thải ra vỉa hè và lòng đường.
• Trồng nhiều cây xanh ở đô thị và các cơ sở sản xuất làm hàng rào ngăn bụi và hấp phụ bụi, góp phần cải thiện môi trường không khí ở thành phố và các khu công nghiệp. Một nghiên cứu đã cho thấy rằng một cây xanh đã làm sạch 5.000 m3 không khí, mỗi hecta rừng quanh thành phố sẽ làm giảm hàng trăm tấn bụi trong mùa hè. Vai trò của cây xanh ở đô thị là điều hòa nhiệt độ và hấp thụ chất ô nhiễm. Khi theo dõi thành phố Frankfurk của Đức, người ta thấy rằng lượng bụi độc giảm theo số lượng cây xanh trồng ở trong thành phố: tại trung tâm thành phố trong 1(lít) không khí chứa 184.000 đơn vị bụi độc; tại nơi không có cây xanh là 115.000 đơn vị bụi độc; trên đường phố có trồng cây xanh là 38000 đơn vị bụi độc và tại công viên là 31.000 đơn vị bụi độc. Trong đô thị, mỗi hecta cây xanh của đường phố có thể làm sạch được từ 50–70 tấn bụi/năm, nghĩa là làm giảm được từ 30–40% hàm lượng bụi trong không gian ủoõ thũ.
• Đặc biệt đối với bụi amiăng: Cấm sử dụng các vật liệu chứa amiăng (có ba loại amiăng: amiăng trắng hay chrysotil, amiăng xanh hay crocidolit và amiăng xám–nâu hay anosit mà hai loại sau tỏ ra độc hại hơn) để sản xuất các sản phẩm gia dụng, dù chúng có nhiều ưu điểm như không cháy, cách âm, chống điện, không bị hủy hoại đối với vi khuẩn, không hư mòn, bền hơn cả thép và rẻ tiền, bởi vì bụi amiăng gây ung thư. Các nước tiên tiến trên thế giới đã cấm sử dụng vật liệu chứa amiăng để sản xuất tấm lợp nhà (fibro ximăng), bảng đen nhân tạo, bồn chứa nước, ống dẫn nước, vách ngăn chống cháy và cách âm, lớp phủ tường cho các công trình xây dựng (nhà ở, công sở, lớp học...), ngoại trừ bộ má phanh của tàu hỏa vì chưa có vật liệu thay thế. Cấm không được sử dụng vật liệu chứa zêôlit làm chất phủ cho hệ thống đường sá ôtô, vì trong quá trình các phương tiện giao thông chạy trên đường đã bào mòn vật liệu này và tung bụi zêôlit làm ô nhiễm ven đường cách xa 200m, gây ung thư màng phổi cho người ở dọc trục giao thông. Không nên hứng nước mưa từ các mái lợp bằng fibrô–ximăng để uống kéo dài, dễ có nguy cơ mắc bệnh ung thư màng bụng. Nhà lợp bằng fibro–ximăng, nên đóng trần để hạn chế bụi amiăng trong nhà. Phải cạo bỏ lớp phủ amiăng chống cháy, cách
nhiệt giảm âm, trên tường, trần nhà các công trình xây dựng. Các nước phương Tây đang làm việc này (chẳng hạn ở trường Đại học Jussieu ở Pari có 200,000 m2 tường được phủ lớp amiăng). Ở Pháp, để loại trừ lớp phủ amiăng cho các công trình, trường học, nhà ở tập thể cần đến 30–150 tỷ franc.
11.9.2. Biện pháp phòng hộ cá nhân
• Khi tiếp xúc với bụi phải sử dụng các trang bị phòng hộ cá nhân đúng và có hiệu quả, chú ý bảo vệ phần da hở cũng như đường hô hấp và mắt. Đặc biệt phải có mặt nạ chống bụi khi tiếp xúc với bụi độc và nguy hiểm, các khí dung, mù...Không dùng khẩu trang.
• Tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về vệ sinh tại nơi làm việc như không ăn, uống, hút thuốc... tại nơi làm việc. Trước khi ăn uống phải rửa kĩ tay và miệng. Không để thức ăn đồ uống và không ăn uống trong khu vực làm việc. Theo kinh nghiệm, các hóa chất gây tác hại mạnh hơn nếu nạn nhân ở trạng thái đói, vì vậy trước khi bắt đầu làm việc nên ăn sáng. Tuyệt đối không được uống rượu, hút thuốc trong khu vực làm việc.
• Tránh làm các hoá chất bốc bụi hoặc làm bay hơi không cần thiết, tránh để mở ngỏ thùng chứa hoá chất. Nếu bị các hoá chất này ngấm vào găng tay hay quần áo thì phải lau rửa ngay và thay bằng găng tay, quần áo sạch.
• Giữ gìn vệ sinh thật tốt khi làm việc, luôn đảm bảo môi trường và dụng cụ làm việc sạch sẽ. Các trang bị phòng hộ cá nhân sau lao động phải được xử lý, làm sạch, bảo quản riêng, không được đem về nhà. Các dụng cụ làm việc bị bẩn ( như xẻng, xúc…) cần rửa kĩ trước khi tiếp tục sử dụng.
• Vệ sinh cơ thể, tắm rửa kĩ sau lao động, mặc đồ sạch...
• Giữ gìn da không để rách xước, sây sát, nhất là những chỗ da thường xuyên hở ra ngoài. Người có bệnh ngoài da (mụn nhọt, ghẻ lở, nấm da…) không nên làm việc ở nơi nhiều tro bụi.
• Nếu các triệu chứng nhiễm độc xuất hiện, hay ngay cả khi cảm thấy khó chịu, người làm việc cần báo ngay cho người phụ trách và đến phòng y tế để khám.
• Mang khẩu trang có than hoạt tính ở những nơi ô nhiễm bụi hoặc khi đi ngoài đường phố.
11.9.3. Biện pháp y học
• Giáo dục sức khỏe về bụi nói chung và bụi có thể ở cơ sở đang làm việc.
• Khám tuyển lao động, không bố trí các đối tượng có vấn đề về sức khỏe vào vị trí tiếp xúc với loại bụi cụ thể.
• Kiểm tra sức khỏe định kì hàng năm hoặc 6 tháng tùy theo loại bụi tiếp xúc. Với bụi độc phải cho đối tượng làm xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết. Với bụi trơ như bụi silic phải chụp phim phổi theo kĩ thuật phát hiện bệnh bụi phổi...
• Giám sát môi trường lao động định kì.
• Giám định bệnh nghề nghiệp do bụi, các biện pháp cần thiết như ngừng tiếp xúc, nghỉ ngơi an dưỡng, chuyển công việc, bảo hiểm xã hội...
Tóm lại, nếu tuân thủ tốt những biện pháp an toàn và quy trình kĩ thuật thì nói chung việc phòng tránh nhiễm độc hoá chất sẽ không khó khaên.