Tình trạng ô nhiễm không khí do bụi tại một số

Một phần của tài liệu độc học môi trường tập 2 (phần chuyên đề) (Trang 155 - 160)

ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG VỀ BỤI

11.8. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM BỤI

11.8.2. Tình trạng ô nhiễm không khí do bụi tại một số

a. Tình hình chung

Hầu hết các đô thị đều ô nhiễm bụi, nhiều đô thị bị ô nhiễm ở mức trầm trọng, tới mức báo động. Nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông lớn đều vượt trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần, trường hợp cá biệt, gần nhà máy gạch và bia Lào Cai nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 5 lần. Nơi ô nhiễm lớn nhất là khu dân cư gần các nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy VICASA Biên Hòa, khu Công nghiệp Tân Bình (TP HCM), nhà máy tuyển than Hòn Gai (TP Hạ Long).

Ô nhiễm bụi thường gặp ở các ngành công nghiệp điện (do sử dụng than, dầu FO và khí tự nhiên), công nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác khoáng sản, công nghiệp sản xuất giấy,…Theo tính toán sơ bộ, tổng lượng bụi chưa xử lý thải ra từ các nhà máy nhiệt điện khoảng 100 – 280 nghìn tấn/năm (chủ yếu là các nhà máy cũ như như Uông Bí, Ninh Bình, Phả Lại). Nhà máy xi măng Long Thọ, Huế, trị số trung bình của nồng độ bụi các đợt đo trong năm 1995 –1999 dao động trong khoảng 0,34 – 0,72mg/m3 và trung bình cả giai đoạn là 0,44mg/m3, gấp 2,2 lần tiêu chuẩn cho phép. Tại khu công nghiệp Biên Hòa II, tất cả các điểm đo đạc đều có nồng độ bụi lơ lửng vào mùa khô và mùa mưa năm 1999 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 8,2 – 48 lần, mặc dù nhiều xí nghiệp trong khu công nghiệp có phát sinh khí, bụi thải đã trang bị hệ thống xử lý trước khi thải vào môi trường.

Kết quả khảo sát năm 1998 – 1999 tại 17 khu công nghiệp cũ của các Thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Hạ Long, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Biên Hòa và TP Hồ Chí Minh cho thấy ô nhiễm bụi trong không khí phổ biến là vượt trị số tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 – 3 lần (trị số tiêu chuẩn cho phép về nồng độ bụi = 0,2mg/m3). Nồng độ bụi trong các cơ sở sản xuất của nhiều ngành công nghiệp quá cao làm ảnh hưởng tới hiệu suất lao động và gây ra các bệnh nghề nghiệp.

Các số liệu điều tra kiểm định của Viện Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Trung tâm y tế – môi trường lao động trong 5 năm qua cho thấy: Nồng độ bụi ở một số nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 – 400 lần (nhà máy gạch chịu lửa Cầu Đuống, các nhà máy xi măng lò đứng,..). Tại các nhà máy luyện kim (cán thép VICADA, SADAKIM, Gia Sàng,..), nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5 – 125 lần. Tại các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản như than, đá, apatit, cao lanh, … nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép trung bình khoảng 170 lần. Tại các nhà máy cơ khí, đóng tàu, … nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn từ 10 – 15 lần, tại các phân xưởng đúc của nhà máy bơm Hải Dương nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 4 –22 lần. Ở các nhà máy dệt Nam Định, dệt Việt Thắng,… nồng độ bụi sợi bông vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần.

Do ô nhiễm bụi trong môi trường lao động cao nên tỷ lệ công nhân bị bệnh bụi phổi silic ở một số ngành tăng lên rất cao: 39,9% ở ngành vật liệu chịu lửa; 28,8% ở cơ sở xay khoáng sản; 27,7% ở ngành khai thác đá; 25,5% ở ngành đúc; 24,8% ở ngành luyện kim và 12,3% ở ngành khai thác than.

b. Hà Nội

Nồng độ bụi bẩn ở Hà Nội ngày một nhiều hơn. Trung bình ở các nơi công cộng trong Thành phố nồng độ bụi vượt quá chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần (theo tiêu chuẩn của các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, nồng độ bụi ở các Thành phố chỉ được phép vượt quá tiêu chuẩn cho phép 1–2 lần). Hứng chịu nhiều nhất là các khu vực đang xây dựng, cải tạo, sửa chữa: Mai Động, Thượng Đình, ngã tư Vọng, Cầu Diễn, Bắc Thăng Long, Chèm, Văn Điển, Láng – Hoà Lạc, Trần Duy Hưng..., với mức vượt quá chuẩn cho phép 5 lần. Nồng độ

các chất ô nhiễm khác đều vượt chuẩn nhiều lần, cực độc có Pb, SO2. Ô nhiễm do bụi cao nhất là vào hôm trời hanh, gió mạnh.

Ngoài chuyện đổ rác bừa bãi của dân, thì phế thải rắn trong xây dựng (đất, đá, sỏi...), vật liệu thi công được coi là tác nhân chính gây bụi bẩn. Từ trung tâm đến ngoại ô, từ các trục giao thông chính đến ngõ ngách, đâu đâu cũng thấy xây dựng. Thành phố đã quy định về bảo đảm vệ sinh, tránh bụi bẩn, các công trình xây dựng nhà ở phải được che chắn kỹ, nhưng không ít chủ công trình đã lờ đi. Nhiều chủ phương tiện chở vật liệu, phế thải không che đậy kín, chở quá tải trọng, phóng nhanh làm rơi vãi ra đường phố. Bên cạnh đó còn có bụi, khói từ các khu công nghiệp tập trung (cũ và mới), từ ô tô, xe máy. Đa phần các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu, dùng than đá mà không có thiết bị thu gom xử lý bụi. Các nhà máy đan xen với dân cư, cơ sở hạ tầng không được xây dựng đồng bộ cũng gây ô nhiễm nặng.

Ngoài ra sự phát triển thiếu hài hoà giữa số lượng và chủng loại của các phương tiện giao thông với hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị thể hiện nhiều bất cập, chưa cân đối và hợp lý. Hệ thống cơ sở hạ tầng tuy phát triển nhanh và dần dần được hiện đại hoá nhưng không theo kịp với tốc độ phát triển nhanh đến mức không thể kiểm soát nổi của các phương tiện giao thông. Chính vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị vẫn nhanh chóng bị quá tải và xuống cấp nghiêm trọng.

Điều này thể hiện rõ qua các sự cố tắc đường liên tục xảy ra trong và ngoài giờ cao điểm tại rất nhiều điểm trên các tuyến đường giao thông ở Hà Nội trong thời gian gần đây. Những sự cố ách tắc giao thông xảy ra đều gây nên hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt. Về mặt môi trường, có thể coi đây là một nguồn thải mặt tương đối rộng và thải ra một lượng rất lớn các khí thải độc hại, ảnh hưởng tới môi trường và sức khoẻ con người. Các khí này thường có nồng độ cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép và do đó chúng tác động rất lớn tới sức khoẻ của không chỉ những người có mặt tại điểm ách tắc mà còn tới cả những cộng đồng dân cư ở các khu vực xung quanh.

Theo tính toán, nồng độ khí thải từ các phương tiện giao thông tại những điểm bị ách tắc giao thông được trình bày trong bảng 11.6.

Bảng 11.6: Nồng độ khí thải từ các phương tiện giao thông tại những điểm ách tắc giao thông ở Hà Nội

Ngã tư Sở Ngã ba TC – TTT Ngã tư Vọng STT Chất thải

(mg/m3) Nồng độ Vượt TC Nồng độ Vượt TC Nồng độ Vượt TC

1 CO 23,87 0,6 14,89 0,4 12,07 0,3

2 CO2 294,9 – 129,0 – 103,4 –

3 CmHm 2,55 5,1 1,46 2,29 1,09 2,18

4 SOx 19,60 49 10,48 26,2 7,48 18,7

5 NOx 27,06 – 14,04 – 10,43 –

6 R–COOH 1,46 24,3 0,79 13,2 0,58 9,7

7 R–CHO 1,09 90,8 0,58 48,3 0,42 35

8 Muội (C) 1,55 – 0,86 – 0,60 –

9 Chì (Pb) 0,56 56 0,31 31 0,22 22

10 Buùi 13,78 45,9 9,12 30,7 7,03 23,4

Như vậy, ngoài CO2, CmHm, muội hiện nay chưa có tiêu chuẩn;

CO cho phép trong hệ thống TCVN còn cao; còn lại các chất khí khác đều vượt TCCP nhiều lần ngay cả trong trường hợp có gió tương đối mạnh. Với nồng độ quá cao như vậy, bản thân những người có mặt tại điểm tắc đường phải chịu đựng một lượng chất độc rất lớn, có thể dẫn tới hậu quả xấu như các chất độc xâm nhập vào cơ thể, tác dụng lên đường tiêu hoá, hô hấp, tuần hoàn, tăng cường lượng chì trong máu, ức chế khả năng vận chuyển oxi trong máu, khống chế hoạt động của một số loại hoocmon, làm rối loạn hoạt động của một số cơ quan chức năng. Điều này trong thực tế dẫn đến hiện tượng hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu ở rất nhiều người sống trong khu vực và những người thường xuyên đi lại trên các tuyến đường giao thông, đặc biệt tại các điểm tắc nghẽn. Theo y học, đây chính là những triệu chứng nhiễm độc nhẹ. Trong trường hợp tiếp xúc nhiều, liên tục có thể dẫn tới nhiều triệu trứng nhiễm độc nặng như: buồn nôn, mệt mỏi, xanh xao, viêm phế quản ... Hơn nữa, khả năng ảnh hưởng, tác động tới hệ

thần kinh, hệ tiêu hoá, hô hấp của các chất độc này về lâu dài là rất nguy hiểm. Do đó xác suất bị các bệnh đường hô hấp, tim mạch của cộng đồng dân cư xung quanh các khu vực có mật độ giao thông cao, thường xảy ra ách tắc rất lớn, đặc biệt là các bệnh về phổi.

c. Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Theo thống kê một cách chưa đầy đủ chúng ta có thể xác định các nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu như sau:

ƒ Khói thải từ các nguồn đốt nhiên liệu: Hầu hết các ngành công nghiệp đều sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau để làm chất đốt nhằm cung cấp năng lượng cho sản xuất. Do đặc điểm kinh tế địa lý, hầu như các nhà máy ở khu vực TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đều sử dụng dầu để làm nguyên liệu. Nguồn thải do chất đốt dầu (chủ yếu là dầu F.O) được xem là nguồn thải quan trọng nhất vì khối lượng, thành phần của nó. Với nguồn nhiên liệu này, chỉ riêng nhà máy điện Hiệp Phước trong khu công nghiệp Hiệp Phước với công suất 675 MW khi xây dựng xong, mỗi giờ sẽ thải vào khí quyển một khối lượng lớn các chất ô nhiễm không khí như sau: lưu lượng khói:

3.578.000m3; SO2: 8.721 kg; NO2: 438 kg; SO3: 108 kg; Buùi, 43kg.

Ngoài nhiên liệu chủ yếu là dầu F.O các nguyên liệu khác được sử dụng trong khu vực cũng gây ô nhiễm không khí đáng kể như than đá, vỏ hạt điều.

ƒ Khí thải từ công nghiệp luyện kim: Khí thải từ nhà máy luyện thép có nguồn chủ yếu từ lò hồ quang, chủ yếu là bụi với hệ số ô nhiễm là 3 – 20kg/tấn sản phẩm và CO với hệ số ô nhiễm là 7 – 10kg/tấn sản phẩm. Như vậy, toàn bộ các nhà máy thép của công ty Thép miền Nam sẽ thải vào môi trường hàng năm một lượng bụi:

2.840 – 4.260 tấn/năm và CO: 994 – 1.420 tấn/năm.

ƒ Khói thải từ các lò đúc nấu kim loại dạng thủ công chứa nhiều khí ô nhiễm và bụi.

Theo tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ thì các nguồn thải trên đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Kết quả quan trắc tại các trạm quan trắc chất lượng không khí xung quanh của Ban quản lý môi trường thành phố năm 2002 cho thấy chất lượng không khí tại các khu dân cư Tân Sơn Nhất (Tân Bình), Thủ Đức và KCN Tân Bình không đạt tiêu chuẩn cho phép do ảnh hưởng của các hoạt động công nghiệp xung quanh, nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,13 – 3,73 lần. Nồng độ bụi tại các trạm quan trắc Tân Sơn Nhất và KCN Tân Bình trong năm 2002 cao hơn năm 2001 tương ứng từ 1,59 –1,94 lần. Thế nhưng kết quả quan trắc chất lượng không khí 8 tháng đầu năm 2003 tại các khu dân cư nói trên cũng cho thấy nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2 – 3 lần. Bên cạnh đó là chất lượng không khí ven đường cũng là điều đáng báo động. Quan trắc ô nhiễm do giao thông tại vòng xoay Hàng Xanh, vòng xoay Phú Lâm và ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ trong năm 2002 cho thấy: nồng độ bụi và CO vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 – 3,2 lần. Trong 8 tháng đầu năm 2003 các chỉ số này còn tăng cao hơn. Các chuyên gia y tế cũng như môi trường đều xác định nồng độ bụi và CO vượt tiêu chuẩn cho phép là một trong những

“hiểm họa” cần báo động. Đó là những chất gây ô nhiễm môi trường chủ yếu và cực kỳ nguy hại cho sức khỏe người dân Thành phố, đặc biệt sẽ làm tăng nguy cơ các bệnh về đường hô hấp, bệnh phổi.

Một phần của tài liệu độc học môi trường tập 2 (phần chuyên đề) (Trang 155 - 160)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(1.100 trang)