ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG VỀ THUỐC LÁ
12.4. ĐỘC HẠI CỦA THUỐC LÁ ĐẾN SỨC KHỎE
12.5.1. Tác hại đối với người hút
Khói thuốc gây hại cho nhiều bộ máy: hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, thần kinh, tiết niệu... chủ yếu hay gặp ở bộ máy hô hấp và tuần hoàn.
12.5.1.1. Hút thuốc và các bệnh hô hấp
Hút thuốc là nguyên nhân được biết đến nhiều không những gây ung thư phổi mà còn gây ra nhiều bệnh phổi khác nữa. Ở phần này sẽ điểm qua về ảnh hưởng của thuốc lá như thế nào đến chức năng phổi và sau đó sẽ tập trung chi tiết hơn vào những bệnh phổi hay gặp do huùt thuoác.
a. Ảnh hưởng của thuốc lá đến chức năng phổi
Khi chúng ta hít vào, không khí sẽ vào đường hô hấp trên qua mũi và miệng, nơi không khí được lọc, sưởi ấm và làm ẩm. Không khí
hít vào sẽ đi qua khí quản để vào phổi. Trong mỗi phổi đều có một hệ thống phế quản, phế quản gốc như là nhánh chính của cây với các cành cây nhỏ là những phế quản, sau 17– 20 lần phân chia thành các tiểu phế quản, từ các tiểu phế quản đó sẽ dẫn đến các túi nhỏ chứa khí gọi là phế nang, nó giống như là chùm nho. Ở phế nang, quá trình trao đổi khí sẽ xảy ra. Máu sẽ đổi CO2 lấy O2 sau đó sẽ mang O2 đến các tổ chức của cơ thể.
Hệ thống hô hấp có một số hàng rào bảo vệ để chống lại các bệnh. Quá trình lọc ở đường hô hấp trên giúp ngăn chặn vi khuẩn, virus và các chất gây kích thích từ ngoài vào trong phổi. Khí quản và tổ chức phổi sản xuất ra chất nhầy giúp cho việc lấy và mang các chất bẩn ra ngoài. Hỗn hợp chất nhầy và chất tạp nhiễm sẽ được đưa ra ngoài nhờ các lông nhỏ li ti gọi là lông chuyển, những lông này lay động rất nhanh về phía trên, trong một số vùng tốc độ của lông chuyển rất cao, tới 1.000 lần trong một phút.
Khi khói thuốc qua miệng thì người hút thuốc đã vô tình bỏ qua cơ chế bảo vệ thứ nhất là quá trình lọc ở mũi. Những người hút thuốc thường bài tiết nhiều đờm hơn những người không hút thuốc mà khả năng đưa đờm ra khỏi đường hô hấp lại kém hơn. Điều này là do hệ thống lông chuyển ở người hút thuốc bị liệt thậm chí bị phá huỷ.
Khói thuốc cũng làm thay đổi cấu trúc các tuyến tiết nhầy và do vậy thành phần của chất nhầy cũng bị thay đổi. Đôi khi các tuyến tiết nhầy bị tắc lại làm giảm khả năng bài tiết đờm. Hậu quả cuối cùng là chất nhầy ở những người hút thuốc bị nhiễm bởi các chất độc hại, và bị giữ lại nhiều trong tổ chức phổi cản trở sự lưu thông trao đổi khí.
Những sự thay đổi cấu trúc phổi ở những người hút thuốc làm giảm khả năng lấy oxy của phổi. Khói thuốc gây phá huỷ phế nang làm giảm tính đàn hồi của phổi và làm giảm khả năng trao đổi oxy.
Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mạng mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm, dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy cần thiết cho cả nhu mô phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khoẻ mạnh và chức năng bình thường của chúng.
Hút thuốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở. Do ảnh hưởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt. Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc, và do đó hình thành các tiếng ran rít, ran ngáy và có thể bị khó thở. Ở những người hút thuốc có nhiều thông số chức năng thông khí thay đổi, trong đó thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) giảm rất nhiều.
b. Các bệnh khác của phổi
Từ đường hô hấp trên (mũi, hầu, thanh quản) đến đường hô hấp dưới đều có thể bị tác hại, gây bệnh.
• Đường hô hấp trên: viêm mũi mãn tính, ung thư xoang hàm, ung thư vòm họng, viêm họng mãn tính, ung thư thanh quản, viêm thanh quản mãn tính.
• Đường hô hấp dưới: viêm phế quản mãn (VPQM), ung thư phế quản hay ung thư phổi (K phổi), ung thư phổi phế quản (KPPQ), hen suyeãn.
• Nhu mô phổi: K phổi (hay KPPQ), giãn phế nang (hay khí phế thuừng), vieõm phoồi...
Hai bệnh thường gặp nhất: KPPQ, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) thường do VPQM gây ra.
12.5.1.2. Ung thử phoồi
Thường ung thư bộ máy hô hấp không được phát hiện kịp thời đến khi quá muộn mới biết thì không chữa được, dưới 8% người bệnh K phổi được chẩn đoán không sống được quá 5 năm. Hơn 1/3 số người chết K phổi do hỳt thuốc và ẳ số khỏc chết do BPTNMT như VPQM và giãn phế nang (hay khí phế thũng). Các chất độc gây ung thư trong khói thuốc phải tiếp xúc với phổi nhiều năm mới có khả năng gây được ung thư phổi. Thường sau 15 năm tiếp xúc với khói thuốc, nhưng thực ra nguy cơ đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Bảứng 12.2: Nguy cơ phỏt triển ung thư phổi/số điếu thuốc/ ngày Số điếu Tỷ lệ chết hàng năm/100,000 nam giới
0 10
1 – 14 78 (gấp 8 lấn người không hút) 15 – 24 127 (gấp 13 lần người không hút)
≥ 25 251 (gấp 25 lần người không hút)
Qua bảng 12.3, ta thấy có hai chỉ số: tuổi tác và số lượng điếu hút: tuổi càng cao và số điếu hút càng nhiều nguy cơ càng lớn. Bảng thống kê của Pháp phản ánh rõ về mối nguy đó.
Bảng 12.3: Số ung thư phát triển hàng năm tính trên 100,000 dân Tuổi Không hút 5–10 điếu/ngày 20 điếu/ngày
30 <1 10 50
40 5 50 250
50 25 250 1.000
60–70 75 750 2.500
Tuổi bắt đầu hút: tuổi bắt đầu hút cũng rất quan trọng, cả nam và nữ bắt đầu hút càng trẻ càng có nguy cơ bị ung thư phổi cao.
Thời gian nghiện hút: ung thư phổi cũng tăng theo thời gian hút thuốc, ví dụ hút thuốc 20 năm tăng gấp 2 lần thời gian 10 năm, nếu hút thường xuyên hàng ngày tỷ lệ tăng gấp 16 lần.
Lượng hắc ín trong điếu thuốc cũng quan trọng nhưng không bằng số điếu thuốc hút, thời gian nghiện hút.
Ung thư phổi là một bệnh có thể phòng tránh được. Nguyên nhân mắc ung thư phổi ngày nay còn chưa biết rõ, có người có nguy cơ cao đối với thuốc lá, có thể do yếu tố di truyền tạo ra enzyme thoái giáng các hydrocacbua gây ung thư, nhưng có điều chắc chắn là ung thư phổi hay gặp ở những người hút thuốc nhất là nghiện nặng. Vậy không hút thuốc có thể phòng tránh K phổi. Một số biểu hiện của beọnh K phoồi:
- Ho khạc đờm máu kéo dài nhiều ngày
- Đau ngực ở một vùng nhất định, đau càng ngày càng tăng.
- Có các yếu tố nguy cơ cao: trên 45 tuổi, nghiện thuốc lá, lào, tiếp xúc với môi trường độc hại (hóa chất, bụi đá...).
Ở một vài vùng trên thế giới người ta hít bột thuốc lá làm cho các mô của mũi tiếp xúc với thuốc lá, tạo điều kiện thuận lợi chuyển thành K. Hai công trình nghiên cứu kết luận nguy cơ gây K xoang mũi liên quan đến hít thuốc của bộ tộc Bantou Phi Châu dùng thuốc lá hít chế tạo từ thuốc lá địa phương tán thành bột trộn lẫn với tro cây cỏ đốt cháy.
12.5.1.3. Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT)
BPTNMT bao gồm VPQM và giãn phế nang hay khí phế thũng là bệnh làm mất khả năng lao động dần dần. Nó làm cho người bệnh đau khổ kéo dài do khó thở vì khí đạo nhỏ ở phổi bị hẹp hoặc tắc nghẽn. Các khí đạo nhỏ này và phế nang cần thiết cho sự trao đổi oxy với máu, khi bị hư hại phổi mất tính chất đàn hồi. Bệnh tiến triển từ từ và khó thở xuất hiện dần dần từ mức độ nhẹ (khó thở khi gắng sức) đến khó thở thường xuyên (suy hô hấp). Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây BPTNMT, hiếm thấy ở người không hút, trên 90% bệnh nhân chết về bệnh này do khói thuốc gây ra. Nguy cơ tử vong tăng tỷ lệ thuận với số lượng điếu thuốc hút.
Bộ máy hô hấp bị tác động âm thầm: người hút không cảm thấy có một dấu hiệu bệnh lý hô hấp nào, tuy nhiên vẫn có biểu hiện ở phoồi.
- Đo chức năng người trẻ nghiện hút cho biết đã giảm đối với tần số hô hấp cao, nghĩa là nhu mô phổi đàn hồi giảm đối với gắng sức mạnh kéo theo nhịp thở tăng rất nhanh (40 chu kỳ/phút), người không hút không có biểu hiện này.
- Ở người nghiện cũng không có triệu chứng của việc thay đổi bất thường của phế quản như ngoại vi về thông khí /tưới máu phổi không đồng đều ở một vài vùng, dẫn đến việc vận chuyển oxy máu thay đổi chút ít.
- Ở người nghiện, sức chịu đựng về tình trạng giảm hay thiếu oxy kém, ví dụ ở vùng núi cao hay môi trường thiếu oxy, không có khả năng gắng sức. Độ thẩm thấu của màng phế nang – mao mạch ngoại vi, người nghiện bị giảm, khuếch tán khí giảm tỷ lệ với số lượng điếu hút, nếu ngừng hút hiện tượng này lại phục hồi bình thường.
12.5.1.4. Bệnh tim mạch
Khói thuốc lá làm tăng lắng đọng các chất mỡ thành động mạch gây xơ cứng và hẹp khẩu kính mạch máu dẫn đến tắc động mạch, nhất là động mạch vành tim hoặc là hậu quả của xơ cứng mạch máu hay máu cục.
Bệnh mạch vành tim hay bệnh tim thiếu máu: là nguyên nhân chính gây tử vong ở nhiều nước phát triển. Khói thuốc “chịu trách nhiệm” ít nhất 20% tử vong. Người hút thuốc có nguy cơ bị bệnh mạch vành tim gấp 2–3 lần người không hút. Nếu vừa nghiện thuốc vừa có các nguy cơ khác, nguy cơ mắc bệnh tim tăng 8 lần. Không kể đến các yếu tố nguy cơ di truyền dẫn đến bệnh mạch vành tim thì số lượng điếu thuốc hút hàng ngày ảnh hưởng rõ rệt so với người không huùt. Nguy cô:
• Lớn hơn 1,5 lần nếu hút 10 điếu 1 ngày
• Lớn hơn 20 lần nếu hút 20 điếu 1 ngày
• Lớn hơn 40 lần nếu hút 40 điếu 1 ngày
Ở các nước phát triển ít nhất 80% nam giới dưới 45 tuổi mắc bệnh tim do hút thuốc, ở tuổi này người nghiện nặng bị bệnh tim nguy hiểm gấy 10–15 lần người không hút thuốc. Nếu ngừng hút, nguy cơ chết do động mạch vành vẫn tồn tại nhiều năm:
• Giảm 50% sau 5 năm cai thuốc
• Sau 15 năm mới hết hoàn toàn yếu tố nguy cơ
Thành phần Nicotin và CO trong khói thuốc gây bệnh mạch vành tim. Đối với phụ nữ trẻ hút thuốc và uống thuốc tránh thai làm tăng nguy cơ bệnh tim, đột quỵ hay bệnh tim khác gấp 10 lần. Tác