Tổ chức nghiên cứu

Một phần của tài liệu Stress Của Kiểm Toán Viên (Trang 88 - 96)

Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.1.1. Địa bàn và khách thể khảo sát 3.1.1.1. Địa bàn khảo sát

Ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển nhanh chóng và đầy thách thức, đặc biệt trong bối cảnh hậu Covid-19 và sự biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Theo báo cáo tổng kết hoạt động kiểm toán độc lập năm 2023 của Bộ Tài chính, ngành kiểm toán Việt Nam đã chứng kiến nhiều thay đổi đáng chú ý, từ số lượng công ty kiểm toán cho đến quy mô và cấu trúc khách hàng.

Số lượng và quy mô của công ty kiểm toán tại Việt Nam, tính đến tháng 12/2023:

- Có 221 công ty kiểm toán; có tổng cộng 165 chi nhánh.

- Có 03 công ty với 100% vốn nước ngoài và 09 công ty có vốn đầu tư nước ngoài.

- 205 công ty kiểm toán là vốn trong nước.

- 23 công ty kiểm toán là thành viên các hãng kiểm toán quốc tế.

Các công ty phân bố tại nhiều tỉnh, thành phố từ bắc đến nam. Cụ thể: cụ thể: Hà Nội (120), Hải Phòng (1), Quảng Ninh (1), Thanh Hóa(1), Nghệ An (2), Đà Nẵng (8), Nha Trang (1), Bình Dương (3), Vũng Tàu (1), Đồng Nai (1), Tp. Hồ Chí Minh (82). Chủ yếu tập trung ở Hà Nội (chiếm 54%) và Tp. Hồ Chí Minh (chiếm 37%)18.

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, tác giả đã quyết định tập trung khảo sát các công ty kiểm toán tại hai trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Lựa chọn này dựa trên thực tế rằng đây là hai đô thị có số lượng và quy mô công ty kiểm toán lớn nhất cả nước, phản ánh rõ nét nhất bức tranh tổng quan của ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam.

Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung vào 55 công ty kiểm toán tại hai thành phố này, bao gồm các công ty kiểm toán có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Điều này không chỉ

giúp đánh giá đầy đủ và toàn diện về tình hình hoạt động của ngành kiểm toán tại những khu vực kinh tế trọng điểm, mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức hoạt động và đối phó với thách thức của các công ty kiểm toán với các quy mô khác nhau trong bối cảnh hiện nay.

Sự đa dạng về quy mô và loại hình của các công ty kiểm toán được chọn sẽ cho phép nghiên cứu này khám phá và phân tích các vấn đề từ nhiều góc độ khác

nhau, từ đó đưa ra những hiểu biết sâu sắc và các khuyến nghị hữu ích cho sự phát triển của ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam.

Danh sách cụ thể của 55 công ty kiểm toán được chọn nghiên cứu, được trình bày chi tiết tại Phụ lục của luận án. Sự lựa chọn này đảm bảo tính đại diện và khả năng tổng quát hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời phản ánh đúng đắn tình hình hiện tại và đặc thù của ngành kiểm toán độc lập trong khu vực quan trọng nhất của đất nước.

Mặc dù ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã gặp nhiều thách thức, nhưng cũng đã có những bước tiến đáng kể. Các công ty kiểm toán đã nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán quốc tế, và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Tuy nhiên, vấn đề stress và áp lực công việc vẫn là một trở ngại lớn đối với ngành, ảnh hưởng đến tâm lý và hiệu suất làm việc của kiểm toán viên. Điều này đòi hỏi sự chú trọng hơn nữa vào việc quản lý và hỗ trợ nhân sự, cũng như cải thiện môi trường làm việc để giảm bớt áp lực và stress trong ngành.

Nhìn chung hoạt động kiểm toán độc lập ngày càng khẳng định được vị trí trong nền kinh tế, được các doanh nghiệp, tổ chức và xã hội thừa nhận và đã góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư, thúc đẩy phát triển thị trường vốn. Thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các công ty kiểm toán đã góp phần thực hiện công khai minh bạch báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, ngăn ngừa lãng phí, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Các thông tin này đã đưa ra cái nhìn tổng quan về ngành kiểm toán ở Việt Nam, từ đó phản ánh tác động đối với nhân lực trong ngành, cũng như các yếu tố liên quan đến hoạt động và quy mô của các công ty kiểm toán.

3.1.1.2. Khách thể khảo sát

Các khách thể tham gia khảo sát là các kiểm toán viên phải thỏa mãn một số tiêu chí nhất định nhằm đảm bảo sự hiểu biết và khả năng phản hồi các nội dung câu hỏi một cách chính xác nhất:

- Là các kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán (các công ty này có trong danh sách đăng ký hành nghề được Bộ Tài chính chấp thuận);

- Có trình độ học vấn từ đại học trở lên;

- Tự nguyện tham gia khảo sát.

Với số phiếu khảo được thư điện tử (email) và gửi trực tiếp bản giấy cho 923 kiểm toán viên, số người phản hồi thu và phiếu hợp lệ là 906, chiếm tỷ lệ 98,27% và

được đưa vào phân tích. Kết quả thông tin khách thể tham gia khảo sát được thể hiện như sau:

Bảng 3.1. Đặc điểm của khách thể được khảo sát

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %

Giới tính

Nam 247 27,26

Nữ 655 72,30

Khác 4 0,44

Độ tuổi

20-30 539 59,49

31-40 320 35,32

41-50 39 4,30

> 50 8 0,88

Tình trạng hôn nhân

Độc thân 523 57,73

Lập gia đình 379 41,83

Ly thân 4 0,44

Số năm kinh nghiệm

Đến 5 năm 580 64,02

6 - 10 năm 247 27,26

11 - 15 năm 49 5,41

Trên 15 năm 30 3,31

Vị trí công việc

Trợ lý 406 44,81

Nhóm trưởng 387 42,72

Trưởng phòng 84 9,27

Giám đốc 29 3,20

Loại công ty kiểm toán Big 4 87 9,60

Non-Big 4 819 90,40

Tổng cộng 906 100

Số liệu phản ảnh các đặc điểm của khách thể tham gia khảo sát. Kết quả cho thấy các đặc thù của nghề nghiệp kiểm toán viên như tỷ lệ nữ chiếm 72,30% cao hơn gấp ba lần so với nam với 27,70%.

Khách thể có sự đa dạng về độ tuổi trong đó độ tuổi dưới 41 chiếm lệ rất cao với 94,81%, và số người tham gia khảo sát chưa lập gia đình là 523 người tham gia khảo sát tương ứng với 57,73%.

Số năm kinh nghiệm dưới 11 năm chiếm tỷ lệ rất lớn với 91,28% khá tương đồng với tỷ lệ độ tuổi của người tham gia khảo sát.

Các khách thể tham gia khảo sát giữ vị trí quản lý có tỷ lệ khá tương đồng với vị trí trợ lý kiểm toán với 45,18% so với 44,81%, và đa số các kiểm toán viên đang

làm việc tại các công ty kiểm toán Non-Big 4 (không thuộc nhóm Big4) với tỷ lệ 90,40%.

Nhìn chung, các kết quả thống kê thông tin người tham gia khảo sát phản ánh được các khía cạnh nghề nghiệp kiểm toán như sự chênh lệch về giới tính, tỷ lệ lớn các người tham gia khảo sát còn trẻ với kinh nghiệm chủ yếu dưới 10 năm. Do vậy, các người tham gia khảo sát hoàn toàn mang tính đại diện cho kiểm toán viên Việt Nam và kết quả dữ liệu được phân tích tiếp theo là hoàn toán tin cậy và phù hợp.

3.1.2. Các giai đoạn nghiên cứu 3.1.2.1. Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu 1) Nghiên cứu tài liệu:

Mục đích: Tạo dựng một nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu thông qua việc phân tích sâu rộng các tài liệu liên quan đến stress trong nghề kiểm toán. Xác định cách tiếp cận và làm cơ sở cho thiết kế công cụ nghiên cứu.

Về phương pháp: Chúng tôi sử dụng phương pháp định tính, kết hợp với việc áp dụng phương pháp PRISMA (Quá trình áp dụng phương pháp PRISMA cho luận án bắt đầu từ việc tìm kiếm ban đầu hơn 500 tài liệu, sau đó loại bỏ trùng lặp, sàng lọc sơ bộ dựa trên tiêu đề và tóm tắt, đánh giá độc lập và chi tiết tiếp tục loại bỏ các tài liệu không phù hợp hoặc không đạt chất lượng, và cuối cùng chọn lọc kỹ lưỡng để thu hẹp danh sách xuống còn 150 tài liệu tham khảo chất lượng cao và phù hợp nhất với nội dung nghiên cứu). Phương pháp PRISMA giúp tối ưu hóa quá trình lựa chọn tài liệu, đảm bảo tính chính xác và toàn diện của các nguồn thông tin được sử dụng.

Phân tích nội dung các tài liệu được chọn để xác định và tổng hợp các khái niệm, lý thuyết và mô hình nghiên cứu liên quan đến stress trong nghề kiểm toán.

2) Thiết kế công cụ nghiên cứu thực tiễn:

Mục đích: Phát triển các công cụ cần thiết để thu thập dữ liệu thực tiễn, phục vụ cho việc kiểm chứng các giả thuyết và lý thuyết đã được xây dựng.

Phương pháp: Kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu.

Xây dựng bảng hỏi: (1) Dựa trên khung lý thuyết đã xây dựng, thiết kế bảng hỏi với các câu hỏi chi tiết và phù hợp; (2) Tiến hành thử nghiệm và điều chỉnh bảng hỏi dựa trên phản hồi để đảm bảo tính hiệu quả và độ chính xác của công cụ.

Lựa chọn phương pháp nghiên cứu: Xác định và lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp, bao gồm cả phỏng vấn, khảo sát, và nghiên cứu trường hợp, dựa trên mục tiêu và đặc điểm của nghiên cứu.

Quá trình xây dựng nội dung bảng khảo sát bao gồm các bước:

Bước 1: Xây dựng bảng khảo sát ban đầu

Ngoài nội dung giới thiệu, bảng khảo sát đầu tiên có nội dung gồm hai phần chính. Phần 1 cung các các thông tin liên quan đến các thang đo đo lường các biến của mô hình nghiên cứu với 3 mục (items) đại diện biến “Áp lực công việc”, 3 mục (items) đại diện “Áp lực thời gian”, 8 mục (items) đại diện biến “Sự mơ hồ và xung đột”, 10 mục (items) đại diện cho “Hành vi lãnh đạo”, 9 mục (items) đại diện cho

“Mẫu hành vi loại A”, 5 mục (items) đại diện cho biến “Hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán”, và 79 thang đo mức độ “Stress của kiểm toán viên”.

Trong đó, các thang đo của biến stress của kiểm toán viên được phân thành 5 nhóm “Sinh lý” (liên quan đến cơ thể) với 21 mục (items). Đồng thời tất cả các mục (items) được đo lường bằng đo lường Likert 5 cấp độ, “Sinh lý/thực thể” (liên quan đến giấc ngủ) với 5 mục (items), “Hành vi” với 14 mục (items), “Cảm xúc” với 21 mục (items), và “Nhận thức” với 18 mục (items). Phần 2 là các câu hỏi liên quan đến thông tin của người tham gia khảo sát.

Bước 2: Sử dụng phương pháp chuyên gia

Để đảm bảo độ tin cậy và sự phù hợp của các thang đo với bối cảnh và môi trường nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam, bảng khảo sát ban đầu được gởi đến các 24 chuyên gia là các kiểm toán viên có hơn 3 năm kinh nghiệm và giữ các vị trí thành viên ban giám đốc, trưởng phòng và Trưởng nhóm kiểm toán tại các công ty kiểm toán. Sau khi nhận được phản hồi từ các chuyên gia, tác giả tiến hành điều chỉnh nội dung phù hợp để có bảng khảo sát sơ bộ ban đầu.

Bảng khảo sát sơ bộ ban đầu được tiến hành gởi đến các 8 chuyên gia lần hai (độc lập với 20 chuyên gia tham gia khảo sát lần 1) nhằm loại bỏ một lần nữa các sai sót nếu có.

Bước 3: Thực hiện Pilot-test

Sau khi có được bảng khảo sát được hiệu chỉnh thông qua phương pháp chuyên gia, tác giả thực hiện Pilot-test nhằm đánh giá thực nghiệm, có các điều chỉnh về nội dung cần thiết trước khi thực hiện khảo sát chính thức nhằm tăng cường sự phù hợp và độ tin cậy của kết quả thu thập dữ liệu và kết quả phân tích nghiên cứu.

Bảng khảo sát được gởi đến 70 người tham gia khảo sát là các trợ lý kiểm toán, nhóm trưởng, trưởng phòng và giám đốc của các công ty kiểm toán khác nhau. Kết quả sau thu thập được xử lý, làm sạch và phân tích trên cơ sở vận dụng kỹ thuật thống kê phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (Exploratory

Factor Analysis - EFA). Sau khi thực hiện các điều chỉnh cần thiết, bảng khảo sát chính thức được hoàn thiện và được sử dụng để khảo sát.

3) Chuẩn bị địa bàn khảo sát:

Xác định và chuẩn bị địa bàn khảo sát bao gồm việc tiếp cận và liên hệ với các công ty kiểm toán và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).

Tiến hành gặp gỡ và thảo luận với các đối tượng liên quan để thuận lợi cho quá trình thu thập dữ liệu. Việc này bao gồm việc xác định các đối tượng khảo sát, lên lịch và chuẩn bị logistics cho quá trình nghiên cứu.

Đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan được thông báo đầy đủ về mục đích và phạm vi của nghiên cứu, cũng như bảo mật và quyền riêng tư của thông tin thu thập.

Qua giai đoạn chuẩn bị này, nghiên cứu sẽ được củng cố về mặt phương pháp luận và cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập dữ liệu chính xác và hiệu quả.

3.1.2.2. Giai đoạn khảo sát chính thức 1) Địa bàn khảo sát:

Khảo sát chính thức được thực hiện tại hai trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam:

TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội. Điều này giúp thu thập dữ liệu từ các kiểm toán viên làm việc tại các môi trường làm việc đa dạng, hoạt động công việc khác nhau.

Đề tài khảo sát tại 55 công ty kiểm toán tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội.

2) Khảo sát định tính:

Phỏng vấn sâu được tiến hành với 06 người để hiểu sâu hơn về trải nghiệm và quan điểm cá nhân của họ về stress trong công việc kiểm toán. Phương pháp này giúp thu thập thông tin chi tiết và sâu sắc về các yếu tố tác động đến stress.

3) Khảo sát định lượng:

Tác giả đã tiến hành khảo sát 923 kiểm toán viên, số người phản hồi thu và phiếu hợp lệ là 906, chiếm tỷ lệ 98,27%. Bảng khảo sát này được trình bày chi tiết tại Phụ lục số 2 của luận án.

4) Bảng hỏi:

Phần 1:Dùng để đánh giá mức độ stress và các yếu tố tác động đến stress như áp lực công việc, áp lực thời gian, môi trường làm việc, và quản lý thời gian.

Phần 2: Sử dụng để thu thập thông tin về ảnh hưởng của stress đến hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán.

Qua giai đoạn khảo sát chính thức, luận án sẽ thu thập được dữ liệu quan trọng để phân tích và đánh giá mối quan hệ giữa stress đến hành vi làm giảm chất lượng

kiểm toán của kiểm toán viên, cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến stress trong ngành kiểm toán.

3.1.2.4. Giai đoạn xử lý số liệu khảo sát

Để thực hiện việc xử lý dữ liệu sau thu thập, tác giả sử dụng công cụ Microsoft Excel để kiểm tra dữ liệu, loại bỏ các trả lời không phù hợp như khuyết thiếu thông tin hoặc trả lời một đáp án cho tất cả các câu hỏi. Sau đó, dữ liệu được mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS 26 để thực hiện các kỹ thuật thống kê. Cụ thể:

Thống kê mô tả dùng để thể hiện mức độ tập trung và phân tán thông qua các giá trị như trung bình, min, max, và độ lệch chuẩn, khoảng, cũng như các thông tin về người tham gia khảo sát.

Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá mức độ đồng nhất của các thang đo đại diện cho biến đo lường và loại bỏ các thang đo không phù hợp. Các thang đó có hệ số tương quan biến tổng nhỏ 0,3 sẽ bị

loại. Tiêu chuẩn chọn thang đo khi có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên thì chấp nhận được về mặt độ tin cậy19.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) thông qua kiểm định KMO để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố với hệ số KMO trong khoảng từ 0,5 đến 1 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp. Và kiểm định Bartlett dùng để kiểm định giả thuyết các biến không tương quan trong tổng thể căn cứ vào giá trị Sig.. Nếu Sig. <0,05 thì các biến có mối tương quan với nhau trong tổng thể20.

Số lượng các nhân tố và các thang đo cho các nhân tố được xác định dựa trên hệ số tải nhân tố của từng thang đo (Factor loading ≥ 0,5 sẽ đạt mức ý nghĩa nếu nhỏ hơn 0,5 thì bị loại). Hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA với Factor loading > 0,3 được xem là mức tối thiểu; Factor loading > 0,4 được xem là quan trọng; và Factor loading > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn.

Số lượng nhân tố được xác định dựa trên chỉ số Eigenvalues với các nhân tố được trích phải có Eigenvalues > 1. Đồng thời, tổng phương sai trích > 50% nhằm đảm bảo các biến của tập dữ liệu thu thập giải thích được hơn 50% sự thiên của dữ liệu21.

Kiểm định sự tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu thông qua hệ số tương quan Pearson và dự đoán có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy hay không. Hệ số này luôn nằm trong khoảng từ -1 đến 1, nếu gần 0,4

19Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh: Thiết kế và thực hiện Nghiên cứu - Phương pháp luận

20, 21Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Thống kê ứng dụng trong kinh tế - xã hội

Một phần của tài liệu Stress Của Kiểm Toán Viên (Trang 88 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(285 trang)