Các yếu tố ảnh hưởng đến stress của kiểm toán viên

Một phần của tài liệu Stress Của Kiểm Toán Viên (Trang 69 - 78)

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS CỦA KIỂM TOÁN VIÊN

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress của kiểm toán viên

Các cá nhân có những đặc điểm khác nhau sẽ có các phương thức phản ứng khác nhau trong các điều kiện môi trường. Do đó, khi hiệu suất công việc của kiểm toán viên bị ảnh hưởng bởi môi trường hoặc điều kiện nơi làm việc, các đặc điểm cá nhân của kiểm toán viên sẽ giải thích rõ hơn về mức độ stress trong công việc của họ. Các đặc điểm cá nhân hoặc tính cách điển hình được gọi là “Mẫu hành vi loại A” [78], [92], [168], [205]. Cá nhân có các hành vi thuộc mẫu hành vi loại A (TABP) được đặc trưng bởi một số thuộc tính như khả năng cạnh tranh, sự bền bỉ, sự thiếu kiên nhẫn, tính hiếu chiến, có cảm giác cấp bách về thời gian, cam kết trong công việc, tham vọng thường trải qua mức độ stress cao hơn so với mẫu hành vi loại B [78], [108], [184], [205].

Hầu hết các cá nhân đều có khả năng diễn ra sự liên tục giữa hai đặc điểm loại A và loại B. Do đó, hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có thể ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của kiểm toán viên, sự thành công cũng như các biểu hiện của stress. Đối với mức độ stress của cá nhân, hành vi thuộc mẫu hành vi loại A chủ yếu bị tác động bởi cường độ làm việc, số giờ làm việc và hiệu suất công việc. Các nghiên cứu dựa trên TABP đã phát hiện hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch [47], [78].

Về lâu dài, các cá nhân có hành vị mẫu loại A biểu hiện các triệu chứng của bệnh tim mạch do tâm lý và công việc phức tạp [78], [205]. Theo khía cạnh truyền thống, TABP được xem như một cấu trúc tương đối không có các yếu tố kết hợp của cảm xúc [108], [168], [184]. Tuy nhiên, hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có liên quan đến sự đau khổ về cảm xúc [78], [42]. Cụ thể như những người bán hàng loại A gặp stress cao hơn so với những người bán hàng loại B [46].

Mẫu hành vi loại B (TBBP) là thuật ngữ dùng để mô tả một kiểu tính cách được đặc trưng bởi thái độ thoải mái, dễ chịu, và không cạnh tranh. Những người có TBBP thường linh hoạt, thích nghi được và chịu đựng được áp lực và sự không chắc chắn. Họ không bị chi phối bởi hạn chót, mục tiêu, hoặc thành tựu, mà thay vào đó họ tận hưởng quá trình sống và làm việc. Họ thường thân thiện, hỗ trợ, hợp tác và có kỹ năng giao tiếp tốt [96].

Mẫu hành vi loại B (TBBP) là thuật ngữ dùng để mô tả một kiểu tính cách được đặc trưng bởi thái độ thoải mái, dễ chịu, và không cạnh tranh. Những người có TBBP thường linh hoạt, thích nghi được và chịu đựng được áp lực và trước sự

thay đổi không chắc chắn. Họ không bị chi phối bởi hạn chót, mục tiêu, hoặc thành tựu, mà thay vào đó họ tận hưởng quá trình sống và làm việc. Họ thường thân thiện, hỗ trợ, hợp tác và có kỹ năng giao tiếp tốt.

Những người có mẫu hành vi loại B (TBBP) thường đối mặt với một số thách thức nhất định. Đầu tiên, họ có thể thiếu động lực, tham vọng, hoặc hướng đi rõ ràng, điều này có thể dẫn đến việc họ không thể khai thác hết tiềm năng của mình.

Thứ hai, trong mắt người khác, đặc biệt là những người thuộc mẫu hành vi loại A (TAPB), họ có thể bị nhận xét là lười biếng, thờ ơ, hoặc thiếu trách nhiệm [134].

Điều này có thể xuất phát từ việc họ không quá tập trung vào mục tiêu hoặc thành công theo cách mà xã hội thường kỳ vọng. Cuối cùng, họ cũng có thể gặp khó khăn trong việc đối phó với các tình huống cạnh tranh hoặc đòi hỏi cao, và có xu hướng tránh những thách thức hoặc xung đột, thay vì đối mặt và giải quyết chúng.

Các kiểm toán viên có tính cách loại A trải qua nhiều stress liên quan đến công việc hơn các kiểm toán viên khác. Hơn nữa, hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có liên quan đến cảm xúc đau khổ làm cho kiểm toán viên có tính cách loại A chịu nhiều xung đột vai trò và dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức [193], [205].

Vì hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có liên quan đến stress, nên nếu một cá nhân thuộc mẫu hành vi loại A đang trải qua mức độ stress cao, thì họ có nhiều khả năng sẽ không tuân thủ đầy đủ các bước trong quy trình kiểm toán, do đó dẫn đến chất lượng kiểm toán thấp. Kiểm toán viên thuộc hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có sự hài lòng trong công việc và hiệu suất làm việc so với các đồng nghiệp thuộc mẫu hành vi loại B. Tuy nhiên, môi trường làm việc của kiểm toán viên có lẽ không đủ khắc nghiệt để bộc lộ hành vi thuộc mẫu hành vi loại A. Hơn nữa các cá nhân có đặc điểm của TABP phản ứng tích cực với các điều kiện công việc đầy thách thức hơn người thuộc mẫu hành vi loại B [78], [168], [184]. Đặc điểm của hành vi thuộc mẫu hành vi loại A có thể dẫn đến stress cao đối với cá nhân thuộc mẫu hành vi loại A, nhưng mặt khác, điều đó cũng có thể dẫn đến việc đạt được mục tiêu cao hơn và hiệu suất công việc tốt hơn.

Các đặc điểm cá nhân, đặc biệt là mẫu hành vi loại A (TABP), có ảnh hưởng đáng kể đến cách thức mà các cá nhân, như kiểm toán viên, phản ứng với stress trong môi trường làm việc. Cá nhân có hành vi thuộc mẫu hành vi loại A thường có đặc điểm như sự cạnh tranh, bền bỉ, thiếu kiên nhẫn, hiếu chiến, và cảm giác cấp bách về thời gian. Những đặc điểm này có thể dẫn đến mức độ stress cao hơn so với những người có đặc điểm thuộc mẫu hành vi loại B. Các nghiên cứu cho thấy hành vi thuộc

mẫu hành vi loại A không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc và sự thành công của kiểm toán viên mà còn liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Mặc dù TABP gắn liền với sự đau khổ về cảm xúc, nhưng nó cũng có thể dẫn đến hiệu suất công việc cao hơn và đạt được mục tiêu trong một số trường hợp. Tuy nhiên, điều quan trọng là hành vi thuộc mẫu hành vi loại A cũng có thể dẫn đến việc không tuân thủ đầy đủ các quy trình trong công việc, như trong trường hợp kiểm toán, do mức độ stress cao và các xung đột vai trò. Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng công việc. Cuối cùng, môi trường làm việc thách thức có thể kích thích phản ứng tích cực từ

những cá nhân có đặc điểm hành vi thuộc mẫu hành vi loại A, dẫn đến hiệu suất công việc tốt hơn so với những người thuộc thuộc mẫu hành vi loại B.

2.4.2. Khối lượng công việc

Khối lượng công việc được định nghĩa là số giờ được báo cáo của nhân viên và số người được phục vụ [186], [190], [199]. Beehr, Walsh và Taber đã định nghĩa sự quá tải công việc là khi nhân viên có nhiều việc phải làm hơn mức có thể hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định [44]. Khối lượng công việc và khả năng kiểm soát công việc có liên quan đến sức khỏe nói chung, trong khi đó, các yêu cầu của công việc liên quan nhiều đến sức khỏe tinh thần [122]. Và thời gian làm việc quá dài mỗi ngày tạo ra stress trong công việc và làm giảm năng suất, thậm chí làm giảm quá trình nhận thức của kiểm toán viên [125], [161], [186], [208]. Vì vậy, khối lượng công việc chắc chắn gây ra stress của người lao động. Do đó, khối lượng công việc có thể ảnh hưởng trực tiếp đến stress trong công việc của kiểm toán viên [30], [190], [208], [210].

Mối quan hệ giữa khối lượng công việc và stress trong công việc đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Khoảng thời gian “mùa kiểm toán”/“mùa cao điểm” bắt đầu vào cuối tháng 12 năm dương lịch, chủ yếu là do hầu hết các công ty khóa sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm, gây ra rất nhiều stress cho kiểm toán viên. Do đó, tình trạng quá tải công việc thuộc về bản chất của môi trường kiểm toán. Áp lực này liên quan đến khối lượng công việc thực tế của các kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán [66], [130], [161]. Kết quả là các kiểm toán viên phải đối mặt với khối lượng công việc cao hơn do thời gian làm việc kéo dài và nhu cầu công việc nhiều trong thời gian cao điểm so với thời gian thấp điểm. Trong thời kỳ cao điểm, nhiều kiểm toán viên làm việc khoảng 60 đến 80 giờ mỗi tuần [30], [57], [59]. Thậm chí trong thời gian thấp điểm, các kiểm toán viên thường làm việc hơn 40 giờ mỗi tuần [52], [53]. Thêm vào đó, công việc kế toán dựa

trên thời hạn rõ ràng và chặt chẽ. Do đó, trong nhiều tình huống, nhu cầu công việc sẽ vượt quá khả năng hoặc nguồn lực của mộ cá nhân và khiến họ kiệt sức về vật chất và tinh thần [190], [199].

Bên cạnh, thời kỳ cao điểm có thể được sử dụng như một “cơ chế” để xác định, đánh giá những Kiểm toán viên có thể làm việc hiệu quả trong một môi trường đầy thử thách [52], [199]. Sweeney và Summers cũng cho thấy vào cuối giai đoạn cao điểm, các kiểm toán viên cảm thấy kiệt sức về mặt tinh thần vì công việc và trở nên thiếu chuyên nghiệp trong cách tiếp cận công việc, đồng nghiệp và khách hàng [199].

Fogarty và các cộng sự cũng cho thấy khối lượng công việc có liên quan trực tiếp đến tình trạng kiệt sức của các kiểm toán viên ở Hoa Kỳ [80]. Almer và Kaplan cũng cho thấy việc tuân theo quy trình công việc cố định (tuân thủ theo chuẩn) khiến các kiểm toán viên cảm thấy stress nhiều hơn là các kiểm toán viên có quy trình công việc linh hoạt [24]. Smith và cộng sự, cũng phát hiện khối lượng công việc có liên quan trực tiếp đến stress của các kiểm toán viên [191], [192]. Khi kiểm toán viên phải đối mặt với sự quá tải trong công việc có xu hướng thực hiện không đầy đủ các thủ tục, quy trình đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán. Từ đó dẫn đến chất lượng kiểm toán chưa được đảm bảo đầy đủ khi kiểm toán viên phải đối mặt với stress do khối lượng công việc quá lớn gây nên [27], [95], [176].

Các công ty kiểm toán đã sử dụng một số chiến lược để giảm thiểu mức độ stress trong thời kỳ cao điểm cho kiểm toán viên, chẳng hạn như sử dụng nhân viên có kinh nghiệm để cố vấn cho nhân viên cấp dưới, xác định rõ kế hoạch làm thêm/thưởng, cung cấp các bài học tương tác nghề nghiệp, sử dụng thời gian linh hoạt và sử dụng nhân viên tạm thời để đáp ứng nhu cầu theo “mùa”. Khi đó, các kiểm toán viên không cảm thấy stress. Tuy nhiên, vào thời kỳ cao điểm, việc làm việc nhiều giờ liên tục có thể góp phần làm tăng mức độ cholesterol [78], [92]. Hơn nữa, khối lượng công việc cao cũng góp phần vào tỷ lệ luân chuyển và nghỉ việc cao trong nghề nghiệp kiểm toán. Nói cách khác, những người từng cảm nhận hoặc trải qua stress cao độ có thể mong muốn thay đổi công việc của họ [42], [78], [191].

Bên cạnh đó, khối lượng công việc có liên quan trực tiếp đến hiệu quả công việc [80], [191]. Mối quan hệ tích cực giữa khối lượng công việc và hiệu quả công việc là kết quả của việc làm việc “quá tải”. Khi đó, khối lượng công việc chính là một trong những yếu tố gây nên stress trong công việc của kiểm toán viên và có tác động đáng kể đến việc giảm hiệu quả công việc của họ. Kiểm toán viên bị quá tải trong

công việc có thể gặp phải các hành không phù hợp và không tuân thủ đầy đủ các thủ tục thử nghiệm trong quá trình kiểm toán.

Như vậy, khối lượng công việc, đặc biệt trong ngành kiểm toán, có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tinh thần và thể chất của nhân viên. Định nghĩa dựa trên số giờ làm việc và số người được phục vụ, sự quá tải công việc xảy ra khi nhân viên phải xử lý nhiều công việc hơn họ có thể hoàn thành trong thời gian nhất định. Điều này gây ra stress, đặc biệt là trong "mùa cao điểm" của ngành kiểm toán, khi công việc tăng vọt để chuẩn bị báo cáo tài chính cuối năm. Làm việc quá sức không chỉ gây ra sự kiệt sức về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến chất lượng công việc, đồng thời có thể dẫn đến việc tăng tỷ lệ nghỉ việc và luân chuyển công việc trong ngành. Các biện pháp giảm stress do công ty kiểm toán áp dụng chỉ phần nào giải quyết được vấn đề, trong khi khối lượng công việc cao vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu quả công việc của kiểm toán viên.

2.4.3. Áp lực thời gian

Áp lực thời gian (deadline/hạn cuối trong công việc) được coi là một vấn đề lớn mà các kiểm toán viên phải đối mặt thường xuyên. Do đó, khả năng ứng phó với áp lực thời gian là điều kiện tiên quyết để tồn tại trong nghề nghiệp kiểm toán [42], [57], [115], [141]. Áp lực thời gian xảy ra khi công ty kiểm toán phân bổ không đủ số giờ để kiểm toán viên hoàn thành các thủ tục kiểm toán [30], [130], cũng như khi kiểm toán viên bị hạn chế về thời gian do hạn chế về nguồn lực được phân bổ để thực hiện kiểm toán của công ty [42], [66], [130]. Nguồn lực hạn chế thường là do ràng buộc về nhân sự hoặc giá phí cung cấp dịch vụ kiểm toán. Kiểm toán viên phải đối mặt với sự mẫu thuẫn giữa các mục tiêu về duy trì chất lượng cao và thời gian hạn chế. Do đó, khả năng đảm bảo đúng hạn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức độ áp lực mà kiểm toán viên phải trải qua [30], [42], [133]. Thời gian (deadline) càng khó đạt được thì kiểm toán viên càng gặp nhiều áp lực. Do đó, điều này dễ dẫn đến sự thỏa hiệp trong quá trình kiểm toán [34], [130], [161], [173].

Thời gian được các công ty kiểm toán sử dụng như một cơ chế kiểm soát và là một công cụ cần thiết để lập kế hoạch và kiểm soát các kết quả kiểm toán. Việc các công ty kiểm toán sử dụng nhiều lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá phí

cung cấp dịch vụ kiểm toán. Và vì giá phí cung cấp dịch vụ kiểm toán có liên quan chặt chẽ đến thời gian kiểm toán của kiểm toán viên, nên các công ty kiểm toán kiểm soát kết quả làm việc của Kiểm toán viên thông qua thời gian. Điều này làm cho các kiểm toán viên nhận thấy áp lực giá phí cung cấp dịch vụ kiểm toán từ khách

hàng là nguyên nhân phổ biến nhất làm giảm thời gian kiểm toán của họ [105], [115], [130]. Do đó, áp lực thời gian khiến các kiểm toán viên phải làm việc chăm chỉ hơn, cố gắng đạt được hiệu quả của kiểm toán, cũng như tìm kiếm và sử dụng các kỹ thuật kiểm toán hiệu quả hơn [59], [130], [132], [161]. Áp lực thời gian cũng khiến các kiểm toán viên tập trung nhiều hơn vào thông tin có liên quan và tránh nguy cơ để các xét đoán bị ảnh hưởng bởi thông tin không liên quan [130], [135], [141], [214].

Bên cạnh đó, áp lực thời gian có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng và ở số thời điểm, kiểm toán viên có thể có các phản ứng tiêu cực khi đối mặt với áp lực về thời gian. Do đó, việc thăng chức được các công ty kiểm toán sử dụng như là cơ chế kiểm soát chính nhằm đảm bảo kiểm toán viên hành xử vì lợi ích tốt nhất của công ty [42], [135], [164]. Theo đó, vì việc đạt được deadline về thời gian được đánh giá là một tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc quan trọng đối với sự thăng tiến trong nghề nghiệp của kiểm toán viên. Từ đó, kiểm toán viên có động lực để không thực hiện các hành vi có thể làm giảm chất lượng của quá trình kiểm toán [31], [175], [176]. Thậm chí, các công ty kiểm toán đã sử dụng thành tích về thời gian để bù đắp thời gian thiếu hụt của năm trước đó [74], [157]. Điều này làm cho các kiểm toán viên sẽ phải tiếp tục chịu đựng áp lực duy trì hoặc tăng hiệu quả công việc trong năm hiện hành và vì vậy họ dễ bị stress [24], [42], [57], [173], [198].

Áp lực thời gian là một vấn đề lớn mà kiểm toán viên phải đối mặt trong công việc của họ. Áp lực này xuất phát từ việc phải hoàn thành công việc trong thời gian hạn chế, thường do giới hạn về nguồn lực và ràng buộc về nhân sự hoặc giá phí cung cấp dịch vụ. Áp lực thời gian yêu cầu kiểm toán viên phải duy trì chất lượng công việc cao trong khi đối mặt với hạn chế về thời gian, thường dẫn đến sự thỏa hiệp trong quá trình kiểm toán. Các công ty kiểm toán sử dụng áp lực thời gian như một cơ chế kiểm soát và lập kế hoạch, tạo ra áp lực đối với kiểm toán viên để đạt được hiệu quả công việc. Tuy nhiên, áp lực thời gian có thể gây ra phản ứng tiêu cực, bao gồm stress và ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Việc đạt được deadline được xem là tiêu chí quan trọng trong sự thăng tiến nghề nghiệp, khiến kiểm toán viên cố gắng không thực hiện hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán.

Như vậy, áp lực thời gian không chỉ tạo ra stress mà còn ảnh hưởng đến chất lượng công việc của kiểm toán viên. Do đó, để đảm bảo chất lượng kiểm toán, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng khi đặt ra các deadline, nhằm giảm bớt áp lực thời gian và tạo điều kiện cho kiểm toán viên hoàn thành công việc một cách hiệu quả và chính xác.

Một phần của tài liệu Stress Của Kiểm Toán Viên (Trang 69 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(285 trang)