Phương pháp nghiên cứu

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 44 - 48)

Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào đặc điểm riêng và điều kiện của các vùng trong huyện Phú Lương nên tôi chọn 3 xã đại diện cho 3 vùng nghiên cứu:

- Vùng 1 chọn xã Sơn Cẩm: Xã Sơn Cẩm có diện tích 16,52 km² và dân số là 11.929 người, mật độ dân cư đạt 722 người/km². Sơn Cẩm là địa bàn đông dân nhất và có mật độ dân số chỉ đứng sau hai thị trấn Giang Tiên và Đu tại huyện Phú Lương, đồng thời là vùng tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên, giao thông thuận lợi, có đường tránh thành phố chạy qua nối tiếp với cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên và là vùng có tiềm năng nhất để phát triển các nhà máy công nghiệp mới.

- Vùng 2 chọn thị trấn Đu: Đu là thị trấn huyện lị của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Thị trấn nằm tại trung tâm địa lý của huyện và kéo dài theo chiều Bắc - Nam, dọc theo quốc lộ 3. Thị trấn Đu giáp với xã Động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đạt, Yên Lạc và Tức Tranh ở phía đông; giáp xã Động Đạt và Phấn Mễ ở phía Tây, giáp xã Phấn Mễ ở phía Nam; giáp xã Động Đạt ở phía Bắc. Thị trấn Đu có diện tích 9,4075 km2 với dân số là 8.583 nhân khẩu, mật độ dân cƣ đạt 1.962 người/km². Là nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất, với trình độ dân trí cao và là vùng có tiềm năng phát triển các nhà máy công nghiệp thứ nhì.

- Vùng 3 chọn xã Động Đạt: Xã Động Đạt có diện tích 36,4894 km2 và 7.968 nhân khẩu. Động Đạt đại diện cho vùng có điều kiện kinh tế còn khó khăn, địa hình khá bằng phẳng, dân cƣ thƣa thớt, điều kiện giao thông còn khó khăn, khó phát triển các nhà máy công nghiệp mới.

2.2.2. Thu thập dữ liệu

- Thu thập d ữ liê ̣u thứ cấp : Đề tài đã tiến hành tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu, nghiên cứu các giáo trình, tài liệu khoa học đã công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Theo đó, đề tài thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp từ các luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố, các bài báo, báo cáo của các Sở ban ngành trên địa bàn Thái Nguyên nhƣ Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động -Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê Thái Nguyên, các báo cáo thống kê của UBND huyện Phú Lương, các tài liệu báo cáo của các phòng, ban, ngành trong huyện và tài liệu trên các trang Website trên Internet, các báo cáo nghiên cứu chuyên đề và các tài liệu khác.

- Thu thập d ữ liê ̣u sơ cấp: Để có đƣợc những đánh giá khách quan về chính sách việc làm cho nông dân vùng thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Lương, Đề tài tiến hành xây dựng hai bộ phiếu điều tra.

Bộ phiếu thứ nhất sẽ thực hiện điều tra đối tượng lao động là người nông dân thuộc hộ có đất bị thu hồi tại 3 xã là xã Sơn Cẩm, thị trấn Đu và xã Động Đạt. Trong đó Sơn Cẩm đại diện cho vùng có tiềm năng thuận lợi để phát triển các nhà máy công nghiệp mới; thị trấn Đu đại diện cho vùng có trình độ dân trí cao, và là vùng có tiềm năng phát triển các nhà máy công nghiệp thứ nhì; còn Động Đạt đại diện cho vùng có điều kiện kinh tế còn khó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khăn, dân cƣ thƣa thớt, điều kiện giao thông còn khó khăn, khó phát triển các nhà máy công nghiệp mới.

Tại mỗi xã, đề tài tiến hành điều tra những xóm có nhiều đất bị thu hồi mà theo báo cáo của cán bộ phòng lao động huyện thì tình trạng việc làm cho nông dân vùng thu hồi đất đang là vấn đề rất đƣợc quan tâm. Đề tài dự định điều tra 150 đối tƣợng lao động thuộc hộ nông dân có đất bị thu hồi tại 3 xã này. Trong đó các xã có điều kiện kinh tế khá giả, có điều kiện hơn trong việc tự tìm việc làm thì số lƣợng phiếu ít hơn. Còn lại tại các xã có tình hình biến động về việc làm của người nông dân tại các hộ bị thu hồi đất còn cao, nên số phiếu phân bổ cho điều tra là cao hơn. Đề tài dự định điều tra khoảng 60% số lao động là nông dân của hộ bị thu hồi đất có thu nhập ở mức trung bình, 20%

có thu nhập ở mức khá, số lao động là nông dân thuộc các hộ còn lại có tỷ lệ tương đối ngang nhau. Sự lựa chọn này xuất phát từ quan điểm thu nhập của những xã này ở mức vừa phải nên đời sống của người dân ở những xã này cũng chủ yếu ở mức trung bình. Thu nhập phụ thuộc vào tình trạng việc làm, do đó những biến đổi về tình trạng việc làm sẽ ảnh hưởng đến tình trạng thu nhập. Do đó phiếu điều tra tập trung chủ yếu vào nhóm đối tƣợng thuộc hộ trung bình sẽ phản ảnh tốt nhất về nhận thức của nhóm đối tượng được điều tra về ảnh hưởng của chính sách đến tình trạng việc làm của người nông dân.

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số mẫu điều tra TT Xã điều tra Số lƣợng phiếu

phát ra

Số lƣợng phiếu hợp lệ

Tổng cộng 150 150

1 Xã Sơn Cẩm 70 70

2 Thị trấn Đu 50 50

3 Xã Động Đạt 30 30

Nguồn: Theo số liệu điều tra của tác giả

Đối với bộ phiếu thứ hai đề tài tiến hành điều tra, gửi bảng hỏi đến đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế, lao động việc làm, đất đai, tại huyện và xã có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nông dân đƣợc điều tra. Phiếu điều tra đƣợc chia đều cho cán bộ chính quyền huyện và xã làm việc trong các cơ quan công quyền và chính trị xã hội trên địa bàn. Đối với bộ phiếu thứ hai, ngoài việc điều tra, để có cái nhìn đa chiều về nhận định, đánh giá của họ về các chính sách hiện hành, bộ phiếu còn hướng tới việc xem xét quan điểm của nhóm đối tượng này về hoạt động hỗ trợ của chính quyền địa phương trong GQVL cho người nông dân trên địa bàn các xã đƣợc điều tra.

Bảng hỏi cho bộ phiếu điều tra đƣợc thiết kế dựa trên các nhóm câu hỏi sau:

- Nhóm câu hỏi thứ nhất: câu hỏi lọc đối với người nông dân bị thu hồi đất, bộ phiếu đƣợc thiết kế để phân các đối tƣợng đƣợc điều tra theo các tiêu chí giới, tình trạng thu nhập...

- Nhóm câu hỏi thứ hai: câu hỏi sự kiện, tri thức của vấn đề (câu hỏi xác định những thông tin cơ bản của hộ gia đình đƣợc điều tra).

- Nhóm câu hỏi thứ ba: câu hỏi đóng. Câu hỏi này đƣợc xây dựng chung cho các đối tượng phỏng vấn là người nông dân thuộc hộ bị thu hồi đất cũng như cán bộ quản lý địa phương.

- Nhóm câu hỏi thứ tư: câu hỏi mở. Đây cũng là nhóm câu hỏi đƣợc thiết kế chung cho toàn bộ đối tƣợng điều tra, nhằm giúp chúng ta hiểu đƣợc thái độ, phản ứng, ý kiến mở rộng của đối tƣợng đƣợc điều tra đối với các chính sách hiện hành liên quan đến GQVL cho người nông dân ở vùng thu hồi đất ngoài những nội dung đƣợc tác giả liệt kê.

2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu và phân tích thông tin, số liệu

* Phương phá p xử lý dữ liệu

Toàn bộ số liệu thu thập được sử dụng chương trình hỗ trợ trên máy tính để tính toán tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết.

* Phương pháp phân tích đánh giá - Phương pháp thống kê mô tả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Phương pháp này áp dụng trong việc mô tả các tình hình chung của huyện, tình hình thu hồi đất của huyện và các xã đƣợc lừa chọn làm địa bàn nghiên cứu, mô tả điều kiện cơ bản của các hộ điều tra, tình hình việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các hộ có đất bị thu hồi, về tình hình tìm kiếm việc làm và những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm của người nông dân bị thu hồi đất.

- Phương pháp phân tổ thống kê

Phương pháp phân tổ được áp dụng trong phân tích sự khác biệt trong các vấn đề có liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp. Các chỉ tiêu phân tích có thể phân loại theo một chỉ tiêu hoặc phối kết hợp hai hay nhiều chỉ tiêu tùy thuộc từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể.

- Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được áp dụng trong phân tích để thấy được sự khác biệt trong các vấn đề có liên quan đến thu hồi đất trong cùng chỉ tiêu của các hộ. Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra sự khác biệt về việc làm, thu nhập, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lao động của các hộ và của vùng, sự thay đổi trong vị thế của hộ.

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 44 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)