Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho nông dân khu vực thu hồi đất ở huyện Phú Lương trong thời gian qua

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 84 - 89)

Chương 3. THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

3.3. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho nông dân khu vực thu hồi đất ở huyện Phú Lương trong thời gian qua

3.3.1. Đánh giá chung

- Về số lao động được GQVL: Trung bình từ năm 2012 đến năm 2014 huyện đã giải quyết việc làm cho 1.869 lao động mỗi năm trong đó có những đối tƣợng chịu tác động của việc thu hồi đất. Kết quả này tuy chƣa thể giải quyết hết được nhu cầu GQVL cho người lao động trong huyện, tuy nhiên nó cũng đã thể hiện sự cố gắng của các cấp, các ngành của huyện Phú Lương trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người lao động là nông dân thuộc diện bị thu hồi đất nói riêng.

Bảng 3.16: Tổng hợp kết quả GQVL năm 2014

TT Tên xã Số hộ

Số LĐ trong độ tuổi

Tổng số đƣợc tạo việc làm mới

Tạo việc làm mới theo Chương trình Tạo việc làm mới

tại địa phương (huyện, TP, TX)

Lao động làm việc ngoài địa

phương

Tại chỗ

Vốn vay 120

Cơ sở sản xuất kinh doanh

Xuất khẩu lao động

Lao động đi làm việc

tỉnh ngoài

1 Ôn Lương 905 2507 89 0 0 36 11 42

2 Phủ Lý 778 1700 95 19 0 37 6 33

3 Giang Tiên 1097 3748 60 15 0 29 0 16

4 Yên Trạch 1619 4128 130 0 0 46 12 72

5 Yên Lạc 1871 4314 90 48 0 23 7 12

6 Vô Tranh 2343 6985 60 2 0 13 4 41

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7 Yên Ninh 1864 4011 347 15 0 26 4 302

8 Động Đạt 2277 5672 105 13 0 68 11 13

9 Tức Tranh 2290 5692 135 0 0 0 5 130

10 TT Đu 2269 5536 52 18 0 22 0 12

11 Phấn Mễ 2538 9611 141 129 0 0 12 0

12 Hợp Thành 737 1401 47 10 0 0 0 37

13 Cổ Lũng 2470 5966 174 1 0 60 18 95

14 Yên Đổ 1.659 3.826 102 0 0 102 0 0

15 Sơn Cẩm 3510 12279 136 17 0 98 21 0

16 Phú Đô 1472 4035 134 5 0 0 13 116

TỔNG 29699 81411 1897 292 0 560 124 921

Nguồn: Phòng Lao động - TBXH huyện

- Về chính sách hỗ trợ của nhà nước: Huyện đã trích ra một khoản ngân sách cho đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cho nông dân vay vốn để học nghề, để tiến hành sản xuất kinh doanh tạo thêm VL cho người nông thôn bằng nguồn vốn 120 (nguồn vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cho lao động nông thôn) nguồn vốn này đã giúp tạo ra hàng nghìn việc làm mới trên địa bàn.Tuy nhiên, theo bảng 3.16 trên ta thấy trong năm 2014 nguồn vốn 120 đã không phát huy đƣợc tác dụng.

- Về công tác đào tạo nghề: Thông qua các lớp đào tạo, học viên đƣợc nâng cao kiến thức, áp dụng khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế.

Qua kết quả điều tra của 150 mẫu, có thể thấy tỷ lệ chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản của người nông dân sau khi bị thu hồi đất đều tăng lên. Trước khi thu hồi đất tỷ lệ chăn nuôi gia súc trong 150 mẫu là 1,62%, tuy nhiên sau thu hồi đất tăng lên 4,38%. Tỷ lệ chăn nuôi gia cầm trong 150 mẫu trước khi thu hồi đất là 17,77% thì sau thu hồi đất là 20,9 %, tỷ lệ nuôi trồng thủy sản cũng gia tăng sau thu hồi đất. Kết quả nghiên cứu cụ thể theo bảng sau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản trước và sau khi bị thu hồi đất qua kết quả nghiên cứu

3.3.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của hạn chế trong giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở huyện Phú Lương

- Số lượng nông dân bị thu hồi đất được thu hút vào làm việc trong các doanh nghiệp, nhà máy công nghiệp là rất ít. Nguyên nhân chủ yếu là do rất nhiều người trong số họ ở độ tuổi cao, trình độ văn hóa thấp, khó học nghề mới, không đáp ứng đƣợc nhu cầu lao động chất lƣợng cao của các khu công nghiệp; mặt khác còn do chủ đầu tƣ các dự án chƣa có kế hoạch cụ thể ngay từ đầu để đào tạo và tuyển dụng lao động tại chỗ, trong khi nhiều người nông dân thiếu sự nỗ lực, lúng túng, mải nghĩ cách chi tiêu số tiền đƣợc đền bù hơn là tìm cách học nghề mới. Tình hình đó dẫn đến tỷ lệ lao động địa phương nơi có đất bị thu hồi làm việc trong các khu công nghiệp là rất thấp.

0 5 10 15 20 25

Chăn nuôi gia súc trước

khi thu hồi đất

Chăn nuôi gia súc sau khi thu hồi

đất

Chăn nuôi gia cầm trước khi thu

hồi đất

Chăn nuôi gia cầm sau

khi thu hồi đất

Nuôi trồng thủy sản trước khi thu

hồi đất

Nuôi trồng thủy sản sau

khi thu hồi đất 1,62

4,38

17,77

20,9

4,27

6,73

Tỷ lệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ nông dân bị thu hồi đất được nhận vào làm trong các công ty, doanh nghiệp sản xuất trên khu vực thu hồi đất

Nguồn: Theo kết quả điều tra của tác giả

- Số lao động là nông dân được chuyển đổi sang nghề mới chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số lao động nông nghiệp bị mất việc làm do thu hồi đất.

Nguyên nhân do lựa chọn ngành nghề không phù hợp, nên dù có đƣợc đào tạo nhƣng vẫn thất nghiệp.

- Do không có việc làm ở nông thôn sau khi bị thu hồi đất, dòng người đi vào Thành phố kiếm việc làm ngày càng tăng gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, tiềm ẩn sự bất ổn trong xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có, việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi đất, dẫn đến tình trạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề.

- Các ngành nghề, các thành phần kinh tế chưa được phát triển mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu VL vẫn chiếm đến tỷ lệ cao ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của huyện Phú Lương.

- Số lượng nông dân chuyển sang ngành nghề mới còn thấp, chất lượng, tính ổn định và tính bền vững của VL cho nông dân khi thu hồi đất chưa cao. Nguyên nhân: trong thực tế quỹ đất của địa phương là có giới hạn

1

99

Tỷ lệ %

Đƣợc nhận vào làm Không đƣợc nhận vào làm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và trình độ học vấn, trình độ tay nghề của lao động nông nghiệp thấp, do vậy để tạo VL phù hợp cho họ sau thu hồi đất là vấn đề nan giải, trở thành áp lực ngày càng lớn đối với huyện Phú Lương.

- Kết quả xuất khẩu lao động đạt thấp. Nguyên nhân chủ yếu là: Tâm lý kén chọn VL, có thu nhập cao của lao động rất phổ biến, ngại làm những công việc giản đơn, nặng nhọc và không đi những nước có thu nhập thấp.Công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động chưa được quan tâm đúng mức, việc kiểm tra, giám sát hoạt động xuất khẩu lao động của cơ quan quản lý nhà nước đối với DN chưa thường xuyên và kịp thời, nên đã xảy ra một số hiện tượng môi giới trong trong hoạt động xuất khẩu lao động làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động và tác động xấu đến hoạt động của các DN xuất khẩu lao động.

- Chính sách, việc thực hiện chính sách của Nhà nước, tỉnh và huyện trong việc GQVL cho nông dân khi thu hồi đất còn thiếu đồng bộ và không triệt để. Hạn chế dễ nhận thấy trong hệ thống chính sách về lao động, VL ở Việt Nam hiện nay chính là sự chồng chéo của nhiều chính sách cũng nhƣ các chương trình, dự án có liên quan. Việc chồng chéo về mặt chính sách đôi khi được thể hiện khi có quá nhiều các Bộ, ngành cùng tham gia vào các chương trình dự án, hoặc có sự chồng chéo về đối tượng thụ hưởng, vùng dự án…

- Việc tổ chức đào tạo nghề cho nông dân khi thu hồi đất không được nghiên cứu một cách chu đáo, dẫn đến nghề nghiệp được đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, cho nên, mặc dầu người lao động đã được đào tạo nhưng vẫn không tìm được việc làm.

Hiện nay, ở Phú Lương có một số doanh nghiệp, chủ đầu tư được giao đất tiếp nhận lao động địa phương nhưng chưa thực sự có trách nhiệm và các dự án triển khai trên địa bàn Huyện chưa tạo thêm nhiều VL cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi. Huyện thiếu biện pháp khả thi để vận động và khuyến khích chủ đầu tƣ, các doanh nghiệp, các khu công nghiệp tiếp nhận lao động bị thu hồi đất vào đào tạo và làm việc tại đơn vị, chủ yếu là dựa trên sự tự nguyện và tinh thần trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với xã hội, đặc biệt là với địa phương cơ sở.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Sự chuẩn bị của các địa phương và người dân trong GQVL sau thu hồi đất chưa thực sự thống nhất, gây khó khăn cho người dân, nhất là người dân nông thôn trong việc ổn định cuộc sống.

Theo điều tra của tác giả, phần lớn người nông dân chưa có kế hoạch sử dụng tiền đền bù một cách có hiệu quả. Tỷ lệ người nông dân không biết định hướng sử dụng nguồn tiền đền bù hỗ trợ lớn, chủ yếu người nông dân chỉ biết mang số tiền đó đi gửi tiến kiệm, chiếm tới 42,7% trong tổng số 150 mẫu điều tra cuẩ tác giả. Một phần lớn sử dụng để sửa chữa và xây mới nhà cửa, chiếm 31,71%. Một số ít đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, học tập chuyển đổi nghề nghiệp, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số mẫu điều tra của tác giả. Kết quả nghiên cứu cụ thể ở bảng dưới.

Bảng 3.17: Mục đích sử dụng tiền đền bù của nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp

STT Tỷ lệ

(%) 1 Đầu tư thêm phân bón, phương tiện sản xuất khác cho sản xuất 4,17 2 Chi phí nghề nghiệp cho gia đình để chuyển đổi nghề nghiệp 5,73 3 Đầu tƣ xây dựng cơ sở sản xuất, mua máy móc, công cụ phục

vụ chuyển đổi nghề nghiệp 4,05

4 Xây dựng và sửa chữa nhà ở 31,71

5 Mua sắm phương tiện phục vụ sinh hoạt như xe máy, tivi, tủ lạnh 9,08

6 Gửi tiết kiệm 42,7

7 Chi tiêu khác 2,56

Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả.

Người nông dân thường mất định hướng sau khi bị thu hồi đất, đồng thời các chính sách hiện tại thường ít gần với những nguyện vọng và mong muốn của người nông dân. Nhiều chính sách như vay vốn để kinh doanh tuy có thực hiện nhưng khá rườm rà, phức tạp về thủ tục vay vốn, điều đó khiến người nông dân rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay.

Chương 4

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 84 - 89)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)