Điều kiện về kinh tế - xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 54 - 61)

Chương 3. THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1. Tổng quan về huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên

3.1.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Hiện trạng dân số: Theo báo cáo điều tra dân số tại phòng thống kê huyện Phú Lương đến năm 2013, toàn huyện có 106.861 nhân khẩu (bao gồm cả lực lƣợng vũ trang), và tiếp tục gia tăng trong năm 2014. Huyện có 16 đơn vị hành chính gồm 14 xã, 2 thị trấn; 274 xóm, phố, tiểu khu, gồm 8 dân tộc là:

Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Giao, Mông, Cao Lan, Hoa. Mật độ dân số của huyện năm 2013 là 290 người/km2, thấp hơn so với mật độ chung của toàn tỉnh là 327 người/km2.

Bảng 3.2: Tình hình dân số huyện Phú Lương

Đơn vị tính: Người

Tổng số

Phân theo giới tính

Phân theo thành thị, nông thôn

Nam Nữ Thành thị Nông thôn

I. Dân số (Người)

2010 105.998 52.937 53.061 7.494 98.504 2011 106.172 53.120 53.052 7.506 98.666 2012 106.856 52.284 54.572 7.547 99.203 2013 106.861 52.286 54.575 11.626 95.235 2014 108.652 53.437 55.215 13.758 94.894

II. Tốc độ tăng (%)

2011 100,7 100,1 101,3 101,5 100,7

2012 100,2 100,3 100,0 100,2 100,5

2013 100,6 98,4 102,9 100,5 96,0

2014 101,7 102,2 101,2 118,3 99,6

Nguồn: Phòng thống kê huyện Phú Lương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nghiên cứu bảng trên ta thấy tỉ lệ dân số qua các năm ở hai khu vực thành thị và nông thôn không biến động nhiều. Tuy nhiên trong vòng 2 năm trở lại đây (năm 2013-2014) do tốc độ CNH - HĐN - ĐTH đƣợc đẩy mạnh, đã dẫn đến tình trạng tỉ lệ dân số tại thành thị tăng nhanh. Sở dĩ có hiện tượng này là do người lao động từ các vùng nông thôn đổ dồn về các khu tập trung dân cƣ tại thành thị để làm ăn, kinh doanh buôn bán, chuyển đổi nghề nghiệp. Việc gia tăng đột biến số lượng người tại khu vực trong 2 năm trở lại đây tại khu vực thành thị đã khiến các cấp, các ngành của huyện cũng nhƣ tại cơ sở gặp khá nhiều khó khăn trong việc quản lý nhân khẩu, cũng nhƣ đảm bảo trật tự, an ninh xã hội.

Hiện trạng nguồn nhân lực: Trong giai đoạn 2012 - 2014, lực lƣợng lao động của huyện Phú Lương tăng bình quân 2,2%/năm. Năm 2014, lực lượng lao động huyện có khoảng trên 90 nghìn người, chiếm tỷ lệ 11% lực lượng lao động toàn tỉnh. Xét về cơ cấu, giai đoạn 2012 - 2014 lực lƣợng lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản tăng bình quân 16%/năm; lao động thương mại - dịch vụ có mức tăng khá là 29%/năm. Trong khi đó, lao động hoạt động trong lĩnh vực Nông - Lâm - Ngƣ nghiệp có biểu hiện giảm nhẹ, đặc biệt trong năm 2014, điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.

Bảng 3.3: Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Phú Lương, Thái Nguyên

ĐVT: Lao động

Năm

Giới tính Độ tuổi Cơ cấu LĐ

Nam Nữ Dưới 15t

Trong tuổi LĐ Nông-Lâm-

Ngƣ CN - XD DV và khác Nam

15-60

Nữ 15-55

Tự làm

Làm công

Tự làm

Làm công

Tự làm

Làm công 2012 43.533 43.283 4.896 37.630 34.041 54.988 92 5.746 4.332 7.742 6.531

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2013 44.169 43.971 4.935 42.197 41.008 53.802 97 8.542 6.727 9.834 9.235 2014 45.683 45.147 5.190 44.417 41.223 51.213 90 10.120 8.645 12.728 8.034

Nguồn: Phòng LĐ - TBXH huyện Phú Lương.

3.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật

Là huyện miền núi nên điều kiện về cơ sở vật chất của huyện Phú Lương còn khá khó khăn. Do đó, trong những năm gần đây huyện đã chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mới điện đường trường trạm theo tiêu chuẩn nông thôn mới. Điều đó đã góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của toàn huyện.

Mạng lưới giao thông đang ngày được qua tâm, cùng với các chương trình nông thôn mới, huyện Phú Lương đã và đang phấn đấu đạt chỉ tiêu tất cả các xóm, xã đều có đường bê tông liên xóm. Đồng thời, các dự án cao tốc Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn) và dự án cải tạo mở rộng quốc lộ 3 đang đƣợc tiến hành hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hổi phát triển hơn nữa cho huyện.

Hệ thống bưu chính viễn thông của toàn huyện đƣợc mở rộng và nâng cấp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Nhu cầu về dịch vụ bưu chính viễn thông ở các khu vực đô thị tập trung dân cư trên địa bàn được đáp ứng tốt. Mạng lưới bưu chính, viễn thông phát triển ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc phục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân.

Đến năm 2013, toàn huyện có 01 bưu cục trung tâm, 100% các xã - thị trấn có điểm bưu điện, hệ thống cung cấp dịch vụ truy cập internet phát triển nhanh.

Hệ thống tài chính - ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm hoạt động đáp ứng được nhu cầu thị trường, huy động thêm nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển. Vốn từ ngân sách Nhà nước được tập trung đầu tư phát triển kết cáu hạ tầng, thực hiện các chương trình mục tiêu, từng bước giải quyết tốt các vấn đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xã hội. Việc khai thác các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước được chú trọng, từng bước thực hiện xã hội hóa đầu tư có hiệu quả.

Về khoa học - công nghệ công tác đầu tƣ chuyển giao công nghệ và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào đổi mới sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống đã được quan tâm thường xuyên hơn. Chính vì vậy, nhiều dự án với mục tiêu chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khoa học, xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất và chất lƣợng sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản chế biến nông sản... mở rộng sản xuất hàng hóa đã đƣợc thực hiện nhằm góp phần thúc đẩy CNH - HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.

Công tác khuyến nông, khuyến lâm, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đƣợc chú trọng quan tâm. Trên địa bàn có trạm bảo vệ thực vật, trạm thú y, chi nhánh Công ty Lương thực, trạm khuyến nông huyện... Do đó đã cung cấp đầy đủ và kịp thời giống, vật tƣ, phân bón cho bà con nông dân. 100% số xã, thị trấn có đội ngũ khuyến nông, khuyến lâm, đảm bảo hỗ trợ bà con nông dân khi cần thiết.

3.1.2.3. Về tăng trưởng kinh tế.

Trong những năm qua, nhờ vào sự nỗ lức phấn đấu từ phía chính quyền, nhân dân Tỉnh và huyện Phú Lương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, hoạt động thu hút đầu tƣ đạt kết quả tốt với 2 ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu. Nền kinh tế trong huyện đã có những bước tăng trưởng đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 8,5%.

Bảng 3.4. Giá trị và tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2012 - 2014

Chỉ tiêu

Giá trị sản xuất (tỷ đồng, giá 2010)

Tốc độ tăng trưởng (%) 2012 2013 2014 12-13 13-14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tổng GTSX trên địa bàn 1.938,8 2.331,5 4.166,5 9,7 12,3 1.Công nghiệp và xây dựng 483,9 654,9 1656,4 16,3 20,4

- Công nghiệp 65,3 81,9 230,7 12 23

- Xây dựng 418,6 573 1.425,7 17 15,5

2. Thương mại - Dịch vụ 429,1 528,7 1.063,4 11 15 3. Nông nghiệp 1.025,8 1.147,9 1.446,7 5,8 4,7

Nguồn: Tính toán số liệu từ phòng thống kê huyện Phú Lương

Qua bảng trên ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Phú Lương đạt khá đúng theo chủ trương của huyện là tăng trưởng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp và xây dựng đạt 20,4%, đây là một tỷ lệ khá cao phần nào cho thấy kết quả của các nỗ lực của huyện Phú Lương trong mục tiêu phát triển ngành công nghiệp tại địa phương. Thương mại - dịch vụ cũng đạt tốc độ tăng trưởng 15%, góp phần đáng kể vào sự nghiệp chung phát triển kinh tế xã hội của toàn huyện. Về cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn huyện có biểu hiện sụt giảm nhẹ về tỉ trọng phát triển, do trong thời gian qua để phục vụ cho công cuộc phát triển nên một phần lớn đất nông nghiệp đã bị thu hồi để phục vụ cho mục đích khác. Tuy nhiên, phát triển kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện vẫn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu được đặc biệt chú ý của huyện Phú Lương. Do trong 02 năm trở lại đây tốc độ thu hồi đất để phục vụ các dự án công nghiệp và đô thị diễn ra khá nhanh nên người nông dân chưa kịp ổn định để trở lại sản xuất, các chính sách phục hồi hay bù đắp lại số đất nông nghiệp bị mất chƣa thực sự phát huy hiệu quả.

3.1.2.4. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế a. Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng thương mại, dịch vụ - công nghiệp và xây dựng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,5%; cơ cấu kinh tế của huyện đến năm 2013 đạt: Thương mại, dịch vụ 25,5% - nông lâm nghiệp, thủy sản 34,7% - công nghiệp, xây dựng 35,8%. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đƣợc quan tâm đầu tƣ xây dựng, thu hút đầu tƣ đạt nhiều kết quả mới.

Bảng 3.5: Chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành ở Phú Lương

(Đơn vị: %)

Chỉ tiêu 2008 2010 2013

1. Công nghiệp và xây dựng 25,0 28,1 35,8

- Công nghiệp 3,4 3,5 5,5

- Xây dựng 21,6 24,6 30,2

2. Thương mại - Dịch vụ 22,1 22,7 25,5

3. Nông nghiệp 52,9 49,2 34,7

Tổng cộng 100,0 100,0 100,0

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Phòng Thống kê Phú Lương

Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ một nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, thương mại và dịch vụ là một quá trình thay đổi kéo dài qua các năm. Với tốc độ chuyển dịch cơ cấu càng cao sẽ dẫn đến các hệ lụy của nó diễn ra càng phức tạp hơn (tỉ lệ thất nghiệp, an ninh, trật tự ...). Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã khiến một bộ phận lớn người nông dân bị lúng túng trong việc phải thay đổi nếp sống thường ngày quen thuộc là gắn với đồng ruộng, họ phải tập làm quen với môi trường tại các nhà máy công nghiệp mới, các máy móc thiết bị hiện đại mới, điều mà trước đó họ gần như chưa bao giờ nghĩ tới.

b. Cơ cấu theo thành phần kinh tế.

Thành phần kinh tế hiện nay của huyện chia ra thành: khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình. Trong huyện thì các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

loại hình tƣ nhân vẫn hoạt động mang tính tự phát, quy mô vừa và nhỏ nhiều hơn so với các loại hình có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, lƣợng vốn đầu tƣ còn ít và thấp như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ xuất hiện trong tỷ trọng của ngành công nghiệp của huyện. Đã có rất nhiều doanh nghiệp đƣợc thành lập thêm, số lƣợng tăng và chất lƣợng tăng lên nhờ cải tiến máy móc, đổi mới công nghệ sản xuất nên tỷ trọng của khu vực tƣ nhân đang tiến dần đến con số của tỷ trọng thành phần kinh tế Nhà nước và có xu hướng trong tương lai nó sẽ cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước.

c. Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ

Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ lần thứ XXII, huyện Phú Lương đã tiến hành xây dựng và phát triển kinh tế theo 4 vùng với các đặc điểm tự nhiên khác nhau:

Vùng phía Tây gồm 3 xã: Phủ Lý, Hợp Thành, Ôn Lương phát triển kinh tế đồi rừng; sản xuất lúa đặc sản; nâng cao dần chất lƣợng chè; phát triển chăn nuôi, thủy sản và thương mại - dịch vụ.

Vùng phía Bắc gồm 3 xã Yên Ninh, Yên Trạch, Yên Đổ tập trung phát triển kinh tế đồi rừng, gắn với chế biến lâm sản; khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất lương thực, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, phát triển thương mại dịch vụ.

Vùng phía Đông gồm 4 xã Vô Tranh, Tức Tranh, Phú Đô và Yên Lạc hình thành vùng sản xuất chè chuyên canh, làng nghề chè an toàn, chè đặc sản gắn với phát triển thương mại, dịch vụ; sản xuất lương thực cây ăn quả; chăn nuôi gia súc, thủy sản.

Vùng phía Nam gồm 6 xã thị trấn là thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên, xã Phấn Mễ, Cổ Lũng, Sơn Cẩm và Động Đạt tập trung phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ; hình thành một số khu trung tâm thương mại, dịch vụ; tôn tạo quần thể khu di tích lịch sử Đền Đuổm; khai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thác, chế biến khoáng sản; sản xuất lương thực, giống lúa; phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp.

Một phần của tài liệu Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Trang 54 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)